CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Hàng xóm liên tục bàn tán “Sao không lấy vợ mới”, “Nuôi 3 đứa con gái, sau biết dựa vào ai”. Hơn 20 năm qua, tôi nghe rất nhiều.. Nhưng tôi vẫn giữ vững quan điểm của mình “không đi thêm bước nữa”…Những câu nói ấy từng khiến tôi chạnh lòng. Nhưng nghe mãi rồi cũng thành quen. Đến bây giờ, mỗi khi có ai nhắc lại, tôi chỉ cười.
Bởi tôi chưa từng cảm thấy mình chọn sai.
Tôi tên là Lê Văn Thành, năm nay sáu mươi ba tuổi. Tôi đang sống trong một căn nhà nhỏ nằm ở cuối con đường làng ven sông. Căn nhà ấy trước đây chỉ là mái ngói cũ, tường vôi đã bong tróc. Sau này, khi các con trưởng thành, chúng góp tiền sửa lại cho bố. Nhà không quá rộng, nhưng lúc nào cũng có cảm giác ấm áp.
Sáng nào cũng vậy, tôi thức dậy lúc năm giờ. Tôi quét khoảng sân trước nhà, đun ấm nước rồi ngồi dưới mái hiên uống trà.
Chiếc ghế gỗ tôi đang ngồi đã cũ lắm rồi. Nước sơn bạc màu, một chân ghế còn được đóng thêm miếng gỗ để khỏi cập kênh. Đó là chiếc ghế mà vợ tôi, Nguyễn Thị Lan, từng mua ở một phiên chợ huyện hơn hai mươi năm trước.
Mỗi lần đặt tay lên thành ghế, ký ức về những ngày cũ lại ùa về.
Và tôi lại nhớ đến câu nói cuối cùng của vợ.
Hai mươi mốt năm trước, Lan rời khỏi thế gian sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo.
Ngày đưa cô ấy vào bệnh viện, ba đứa con vẫn còn quá nhỏ.
Con gái lớn Thảo mới mười một tuổi.
Con thứ Mai vừa lên tám.
Còn bé út Ngọc chỉ mới năm tuổi.
Tôi vẫn nhớ rất rõ buổi chiều hôm đó. Ngoài trời mưa tầm tã. Hành lang bệnh viện lạnh ngắt. Tôi đứng bên ngoài phòng cấp cứu, hai bàn tay run lên vì sợ.
Đến khi bác sĩ bước ra, chỉ lắc đầu, tôi đã hiểu.
Tôi vào phòng.
Lan lúc ấy đã yếu lắm. Cô ấy cố mở mắt nhìn tôi, rồi nhìn về phía ba đứa trẻ đang khóc bên cạnh.
Bàn tay cô ấy nắm lấy tay tôi.
“Anh Thành…”
Tôi cúi xuống.
“Em không còn ở bên các con được nữa. Anh… cố gắng nuôi chúng nên người.”
Tôi nghẹn lời, chỉ biết gật đầu.
Cô ấy siết tay tôi lần cuối.
“Đừng để các con khổ…”
Đó cũng là câu cuối cùng Lan nói với tôi.
Sau đám tang, căn nhà vốn đầy tiếng nói cười bỗng im lặng đến đáng sợ.
Ngọc đêm nào cũng ôm chiếc áo cũ của mẹ, vừa khóc vừa gọi:
“Mẹ ơi…”
Mai không khóc nhiều. Con bé chỉ ngồi thu mình bên cửa sổ, mắt nhìn ra ngoài như chờ mẹ sẽ trở về.
Còn Thảo mới mười một tuổi nhưng đã biết mình phải lớn thật nhanh.
Con bé tự giác nấu cơm, dỗ em ngủ, sáng gọi hai đứa nhỏ dậy đi học.
Tôi nhiều lần đứng ngoài cửa nhìn ba chị em ôm nhau mà quay mặt đi lau nước mắt.
Tôi cũng nhớ vợ.
Nhớ đến đau lòng.
Nhưng tôi không cho phép mình gục xuống.
Tôi nghĩ, nếu ngay cả tôi cũng ngã, ba đứa trẻ này sẽ biết dựa vào ai?
Chưa đầy ba tháng sau ngày Lan mất, những lời mai mối bắt đầu xuất hiện.
Người này bảo:
“Anh còn trẻ, nên tìm người bầu bạn.”
Người khác lại khuyên:
“Con còn nhỏ, có một người phụ nữ trong nhà chăm sóc sẽ tốt hơn.”
Tôi không phủ nhận. Có những đêm nhìn ba đứa trẻ ngủ, tôi cũng từng nghĩ đến chuyện đó.
Tôi không sợ cô đơn.
Tôi chỉ sợ các con thiếu hơi ấm của một người mẹ.
Tôi từng gặp vài người phụ nữ do người quen giới thiệu. Có người hiền lành, có người thật sự thương trẻ con.
Nhưng cũng có người vừa gặp tôi đã hỏi chuyện nhà cửa, tiền bạc.
“Anh có căn nhà riêng không?”
“Thu nhập mỗi tháng được bao nhiêu?”
“Ba đứa con gái thì sau này ai nuôi?”
Có người còn nói thẳng:
“Nếu chúng ta kết hôn, anh nên gửi bớt hai đứa về ông bà ngoại. Nuôi cả ba thì cực quá.”
Tôi im lặng một lúc rồi đứng dậy.
“Xin lỗi chị. Có lẽ chúng ta không hợp.”
Từ ngày hôm ấy, tôi không đi gặp mặt nữa.
Tôi tự nhủ một câu rất đơn giản:
Con mình thì mình nuôi.
Ngày đó, tôi làm nghề sửa điện dân dụng.
Sáng sớm đã phải đi. Có hôm trèo lên mái nhà giữa trời nắng, có hôm lội nước sửa đường dây sau mưa. Tiền công chẳng đáng là bao, nhưng đó là công việc duy nhất giúp tôi nuôi được ba đứa con.
Ban ngày, tôi gửi Ngọc sang nhà bà ngoại.
Chiều tan làm lại chạy xe qua đón con.
Có lần tôi đang sửa hệ thống điện cho một cửa hàng thì điện thoại reo.
Giọng cô giáo gấp gáp:
“Anh Thành ơi, cháu Ngọc sốt cao lắm. Anh đến đón cháu đi bệnh viện ngay.”
Tôi bỏ luôn túi đồ nghề.
Chạy xe hơn chục cây số trong mưa.
Khách gọi với theo:
“Anh chưa sửa xong mà!”
Tôi chỉ nói:
“Xin lỗi, con tôi bệnh.”
Hôm ấy tôi mất cả tiền công.
Nhưng khi ôm được con vào lòng, tôi thấy chẳng có gì đáng tiếc.
Có những giai đoạn gia đình tôi nghèo đến mức cả bốn bố con phải ăn cơm với nước mắm nhiều ngày liền.
Một tối, Thảo nhìn mâm cơm rồi hỏi:
“Bố không ăn thịt à?”
Tôi cười:
“Bố đang giảm cân.”
Thật ra hôm ấy trong nồi chỉ còn đúng một miếng thịt.
Tôi gắp cho ba đứa.
Chúng ăn ngon lành.
Còn tôi lặng lẽ chan thêm nước mắm vào bát cơm trắng.
Đêm ấy bụng tôi đói cồn cào.
Nhưng nhìn ba đứa con ngủ say, tôi lại thấy lòng mình bình yên.
Tôi nghĩ, chỉ cần các con lớn lên khỏe mạnh, những ngày tháng thiếu thốn này rồi cũng sẽ qua.
Điều khiến tôi tự hào nhất không phải là sau này các con kiếm được bao nhiêu tiền.
Tôi tự hào vì chúng biết thương nhau.
Thảo tan học là về nấu cơm.
Mai giặt quần áo.
Ngọc quét nhà, nhặt rau.
Tôi chưa từng bắt chúng phải làm.
Có lẽ vì chúng hiểu bố đã quá vất vả.
Một lần, tôi vô tình nghe Ngọc hỏi chị:
“Chị ơi, nhà mình nghèo lắm hả?”
Thảo im lặng một lúc rồi xoa đầu em.
“Không nghèo đâu.”
“Thật không?”
“Ừ. Chỉ là bố đang phải cố gắng nhiều hơn người khác một chút thôi.”
Tôi đứng ngoài bếp, nghe đến đó mà sống mũi cay xè.
Tôi quay đi thật nhanh để hai đứa không nhìn thấy mình khóc.
Nhiều người từng nói với tôi:
“Con gái rồi cũng lấy chồng. Nuôi làm gì cho cực?”
Tôi chưa bao giờ nghĩ như vậy.
Tôi chỉ nói với các con:
“Không cần phải hơn người khác. Nhưng nhất định phải sống tử tế.”
“Có nghề nghiệp thì tự đứng bằng đôi chân mình.”
“Sau này có gia đình riêng cũng đừng quên người đã từng giúp mình.”
Ba đứa đều ghi nhớ.
Thảo thi đỗ Đại học Y.
Ngày con nhập học, số tiền học phí còn thiếu gần hai chục triệu.
Tôi định bán chiếc xe máy cũ.
Đó là tài sản lớn nhất của tôi lúc ấy.
Thảo biết chuyện, ôm chặt lấy bố.
“Bố không được bán.”
“Không bán thì lấy gì đóng học?”
“Con sẽ đi làm thêm.”
Tôi nhìn đôi bàn tay gầy guộc của con mà đau lòng.
May mắn sau đó Thảo nhận được học bổng.
Tôi giữ lại được chiếc xe.
Mai học công nghệ thông tin.
Năm cuối đại học, con nhận được học bổng toàn phần sang nước ngoài.
Ngày ra sân bay, Mai ôm tôi khóc.
“Bố, con nhất định sẽ trở về.”
Tôi cười:
“Con cứ đi đi. Ở đâu có tương lai thì cứ sống tốt ở đó.”
Tôi không nói với con rằng sau khi nó đi, căn nhà vắng hẳn.
Nhưng tôi không muốn con vì nhớ bố mà từ bỏ cơ hội.
Năm năm sau, Mai trở về thật.
Tôi hỏi:
“Sao không ở lại làm thêm vài năm?”
Con đặt chiếc vali xuống, ôm lấy tôi.
“Vì con nhớ bố.”
Tôi cười mà nước mắt cứ chảy.
Ngọc sau này trở thành kiến trúc sư.
Ngày nhận tháng lương đầu tiên, con không mua quần áo mới mà đem về cho tôi một đôi dép.
Tôi bật cười:
“Bố còn dép mà.”
Ngọc chỉ xuống chân tôi.
“Đôi dép này bố vá đến lần thứ ba rồi.”
Tôi cúi xuống.
Lúc ấy tôi mới nhận ra quai dép quả thật đã được khâu lại bằng dây thép.
Hóa ra con gái tôi đã để ý từ lâu.
Tôi cầm đôi dép mới mà thấy lòng mình ấm đến lạ.
Hai mươi mốt năm cứ thế trôi qua.
Ba cô con gái ngày nào giờ đều đã trưởng thành.
Thảo trở thành bác sĩ, sau đó mở một phòng khám nhỏ.
Mai làm quản lý công nghệ cho một công ty lớn.
Ngọc thành lập một văn phòng thiết kế riêng.
Các con đều có cuộc sống ổn định bằng chính khả năng của mình.
Nhưng điều khiến tôi hạnh phúc nhất không phải những chức danh hay số tiền chúng kiếm được.
Mà là cuối tuần nào, căn nhà của tôi cũng đông vui.
Ba chiếc xe nối nhau đỗ trước sân.
Tiếng các con gọi:
“Bố ơi!”
“Bố ăn sáng chưa?”
“Bố, chiều nay con đưa bố đi khám nhé.”
“Bố, tháng này con sửa lại cái mái hiên cho bố.”
Căn nhà nhỏ lại đầy tiếng cười.
Những người hàng xóm ngày trước từng thương hại tôi giờ cũng thay đổi cách nhìn.
“Ông Thành giỏi thật.”
“Ba cô con gái đều nên người.”
“Ngày trước chúng tôi nói sai rồi.”
Tôi chỉ cười.
Tôi không trách ai.
Bởi mỗi người đều có cách nhìn của mình.
Một buổi chiều cuối thu, bác Hòa – người hàng xóm sống ngay đầu ngõ – sang nhà tôi.
Bác ngồi xuống chiếc ghế đối diện, im lặng rất lâu.
Tôi rót chén trà đặt trước mặt bác.
“Có chuyện gì mà bác trầm ngâm vậy?”
Bác Hòa nhìn tôi rồi thở dài.
“Thành này, tôi muốn xin lỗi chú.”
Tôi ngạc nhiên.
“Chuyện gì vậy bác?”
Bác cúi đầu.
“Hơn hai mươi năm trước, tôi là người khuyên chú lấy vợ khác nhiều nhất.”
Tôi bật cười.
“Chuyện lâu rồi, bác còn nhớ làm gì?”
“Nhưng tôi nhớ.”
Bác nhìn ra sân, nơi ba chiếc xe của các con tôi đang đỗ.
“Ngày ấy tôi cứ nghĩ đàn ông một mình nuôi ba đứa con gái thì chắc chắn sẽ khổ. Tôi còn nói với người khác rằng sau này chú già sẽ chẳng có ai bên cạnh.”
Bác dừng lại, giọng nghẹn đi.
“Nhưng hôm qua tôi nằm viện. Hai đứa con trai của tôi đều bận. Một đứa gọi điện bảo không về được, đứa còn lại gửi tiền thuê người chăm sóc.”
Bác cười buồn.
“Còn chú thì sao?”
Tôi chưa kịp trả lời, ngoài cổng đã vang lên tiếng xe.
Thảo bước vào trước.
“Bố ơi, con mua ít đồ ăn rồi.”
Ngay sau đó Mai gọi điện:
“Bố nhớ uống thuốc nhé, tối con gọi lại.”
Ngọc thì nhắn tin:
“Bố, cuối tuần con về sửa lại cái cửa phòng.”
Bác Hòa ngồi im.
Một lúc sau, bác nói:
“Có lẽ tôi hiểu rồi.”
Tôi nhìn bác.
“Hiểu gì?”
Bác mỉm cười:
“Con cái không phải cứ con trai mới là chỗ dựa. Quan trọng là mình đã dạy chúng thành người thế nào.”
Tôi không nói gì.
Chỉ lặng lẽ nhìn ra khoảng sân.
Nắng chiều đang rơi xuống mái nhà, vàng dịu.
Tôi chợt nhớ đến Lan.
Nếu cô ấy còn sống, có lẽ cô ấy sẽ vui lắm.
Ba đứa con gái ngày nào từng tranh nhau nằm cạnh mẹ giờ đã trưởng thành, mỗi đứa đều có một cuộc đời riêng nhưng vẫn quay về bên bố.
Tối hôm đó, ba chị em cùng ngồi quanh mâm cơm.
Thảo gắp thức ăn vào bát tôi.
Mai nhắc:
“Bố ăn rau đi, đừng chỉ ăn thịt.”
Ngọc cười:
“Bố mà cứ ăn kiểu này thì con phải đưa bố đi khám mỗi tháng mất.”
Tôi nhìn ba đứa, bất giác bật cười.
Ngoài sân, gió thổi qua hàng cây.
Tôi bỗng thấy căn nhà này chẳng hề cô đơn.
Hai mươi mốt năm trước, tôi từng sợ rằng một mình mình sẽ không thể nuôi nổi ba đứa trẻ.
Tôi đã sợ những ngày tháng thiếu thốn.
Sợ chúng không có mẹ.
Sợ chúng lớn lên sẽ trách bố.
Nhưng cuối cùng, điều tôi nhận được còn nhiều hơn những gì tôi từng mong.
Tôi không tái hôn.
Không phải vì tôi ghét cuộc sống gia đình.
Cũng chẳng phải vì tôi muốn chứng minh điều gì với thiên hạ.
Chỉ là năm ấy, khi đứng trước bàn thờ vợ và nhìn ba đứa con thơ dại, tôi đã tự hứa rằng:
Chỉ cần các con chưa trưởng thành, tôi sẽ là người đứng phía trước che mưa chắn gió cho chúng.
Hai mươi mốt năm sau, tôi mới hiểu một điều.
Có những người phụ nữ không thể ở bên ta cả đời, nhưng tình yêu của họ vẫn ở lại trong cách những đứa con lớn lên.
Lan đã không còn.
Nhưng cô ấy vẫn hiện diện trong từng bữa cơm, từng tiếng cười, từng lần ba đứa con trở về gọi tôi một tiếng “Bố”.
Và có lẽ, đó chính là món quà lớn nhất mà cuộc đời dành cho một người đàn ông đã chọn ở lại một mình.
Tôi vẫn ngồi trên chiếc ghế gỗ cũ mỗi sáng.
Vẫn pha một ấm trà.
Vẫn nhìn nắng lên trên mái nhà.
Chỉ khác một điều.
Ngày trước, tôi ngồi đó và nghĩ về những gì mình đã mất.
Còn bây giờ, tôi nhìn quanh và biết mình đang có cả một gia đình.
Người ta từng hỏi:
“Ông không lấy vợ mới, về già dựa vào ai?”
Tôi không cần phải trả lời nữa.
Bởi ngay lúc này, tôi có ba cô con gái.
Và ba cô con gái ấy chính là câu trả lời đẹp nhất cho hơn hai mươi năm lựa chọn của tôi.