
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
“Ba tôi ng::uy k::ịch cần 120 triệu đồng phẫu thuật, họ hàng giàu có lần lượt từ chối. Giữa lúc tuyệt vọng nhất, người thím nghèo nhất họ lại mang 150 triệu đồng vượt bão đến cứu anh. 12 năm sau, tôi làm một việc khiến cả họ phải lặng người…”
Tôi vẫn nhớ như in cái nắng cháy da cháy thịt của buổi trưa hè năm đó, dội thẳng xuống mặt đường nhựa như muốn đốt rụi mọi thứ. Tôi gò lưng đạp chiếc xe còm cõi về gian phòng trọ chật chội, chiếc áo sơ mi đã bạc màu dính chặt vào lưng vì mồ hôi. Là một đứa học sinh tỉnh lẻ lên thành phố trọ học, bữa cơm của tôi chỉ toàn rau luộc với tương chao, nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy tủi thân. Bởi vì sau lưng tôi luôn có ba – một người thợ cơ khí lành nghề nhưng lặng lẽ, với đôi bàn tay chằng chịt vết sẹo gõ mìn, chắt chiu từng đồng lẻ gửi lên nuôi tôi ăn học. Giữa giờ nghỉ trưa, khi đang ăn dở chén cơm nguội, điện thoại tôi reo lên dồn dập. Giọng người quen ở quê lạc đi vì hoảng hốt: “Chạy ngay vào bệnh viện tỉnh, ba mày đổ gục ngay tại xưởng rồi!” Tôi đánh rơi cả chén cơm, lao như bạt mạng đến bệnh viện, lồng ngực đập liên hồi như muốn vỡ tung. Mùi dung dịch tiệt trùng nồng nặc phủ kín hành lang. Bác sĩ trưởng khoa bước ra, chìa tờ biên bản hội chẩn cùng con số lạnh ngắt: 120 triệu đồng chi phí mổ khẩn cấp. Tôi đứng chết lặng tại chỗ. Con số ấy lớn đến mức một đứa trẻ như tôi chưa từng hình dung nổi. Trong túi tôi lúc đó chỉ còn đúng vài trăm ngàn. Tôi gọi điện khắp nơi, vay mượn bạn bè cùng lớp cũng chỉ gom được hơn hai triệu – quá nhỏ bé trước ranh giới sinh tử. Không còn cách nào khác, tôi chạy đến nhà bác Cả – người anh ruột của ba, sở hữu một chuỗi cửa hàng vật liệu lớn nhất vùng. Tôi quỳ sấp mặt xuống nền gạch hoa mát lạnh, chắp tay cầu xin một con đường sống. Nhưng bác gái đứng khoanh tay nhìn xuống, giọng thản nhiên: “Năm nay làm ăn thất bát, hàng hóa tồn đọng trong kho chưa giải phóng được, lấy đâu ra tiền sẵn.” Bác Cả đứng bên cạnh nhấp ngụm trà, tản mát khói thuốc rồi phán một câu: “Căn bệnh này tốn kém lắm, chữa xong chưa chắc đã duy trì được lâu. Hay là đưa về dùng thuốc thảo dược xem sao.” Cánh cửa cổng sắt khép lại cái rần, dập tắt chút hy vọng vừa nhen nhóm. Tôi lại lê bước chân nặng trĩu đi tìm chú Ba. Chú đứng ngay ngoài hàng rào, nhất quyết không mở cổng: “Sổ tiết kiệm của gia đình chú đã gửi kỳ hạn dài, giờ rút ra là mất trắng tiền lời, ai gánh cho chú?” Chú nhét vào tay tôi tờ tiền 500 ngàn rồi giục tôi đi đi. Tiếng khóa cổng sắt lách cách vang lên giữa không gian tịch mịch.
Tôi đứng trố mắt nhìn dòng người qua lại náo nhiệt mà thấy lòng mình trống rỗng đến cùng cực. Ba tôi – người cả đời hy sinh, luôn dạy con cái phải sống trước sau như một – lại đang nằm chờ chết, trong khi những người chung dòng máu lại ngoảnh mặt làm ngơ. Trời tối dần, cơn bão bất ngờ quét qua thành phố. Tôi ngồi gục đầu trên chiếc ghế đá lạnh ngắt ngoài sảnh chờ, hai bàn tay đan chặt vào nhau. Bên trong cánh cửa kia, ba tôi đang phải giành giật từng hơi thở. Còn tôi thì hoàn toàn bất lực. Ngay lúc tuyệt vọng nhất, màn hình điện thoại rực sáng. Là cuộc gọi từ thím Năm – người em dâu nghèo nhất họ, đang sống ở vùng bãi bồi ven sông, quanh năm làm lụng vất vả vẫn không đủ ăn. Tôi mím chặt môi, cất tiếng gọi trong nước mắt. “Thím nghe tin anh Hai gặp nạn rồi. Sao cháu không nhắn cho thím một lời?” Giọng thím nghẹn lại. Tôi oà khóc nghẹn ngào, kể lại toàn bộ sự việc và sự ghẻ lạnh của dòng họ. Thím Năm im lặng vài giây rồi đanh thép nói: “Cháu nín ngay. Chú thím lên ngay bây giờ, dù có phải băng qua bão lũ cũng phải đến.” Tôi hốt hoảng: “Thím ơi, đường bãi bồi sạt lở nguy hiểm lắm!” Thím ngắt lời: “Tính mạng anh Hai tính bằng từng phút. Chậm một chút là hối hận cả đời.” Khoảng 3 giờ sáng, khi cơn mưa bắt đầu ngớt, tôi thấy bóng dáng hai người gầy guộc xốc xếch bước qua cửa sảnh. Chú thím Năm xuất hiện, người ướt sũng, ướt nhẹp từ đầu đến chân, ống quần bám đầy bùn đất đỏ quạch. Thím Năm ôm chặt một bọc vải dù trước ngực. Thím ngồi xuống ghế, cẩn thận tháo từng lớp nilon che chắn, để lộ một bọc tiền dày cộp đủ mệnh giá, được vuốt phẳng phiu ngăn nắp: đúng 150 triệu đồng. Thím dúi bọc tiền vào tay tôi: “Tiền này chú thím mới bán đợt lúa, gán lại chiếc máy cấy cho người ta và vay thêm bà con xung quanh. Cháu cầm lấy đóng viện phí ngay đi!” Tôi run rẩy không dám nhận: “Tiền này là cả cơ nghiệp của gia đình thím…” Thím Năm ôm lấy vai tôi, cất giọng kiên định khiến tôi nhớ mãi cả đời…
Thím Năm nhìn thẳng vào mắt tôi, dằn từng tiếng trong nước mắt: “Của cải mất đi thì tay làm hàm múa lại có, máy móc mất thì chịu khó tốn sức người. Nhưng anh Hai mà mất thì dù có núi vàng núi bạc cũng không đổi lại được!”
Tôi lấy giấy bút định viết một tờ giấy nợ, thím Năm vò nát tờ giấy rồi vứt đi: “Ruột thịt một nhà, thấy biến cố mà ngoảnh mặt là thất đức. Thím không bán lòng tốt để lấy tờ giấy nợ của cháu.” Nhờ có số tiền kịp thời, ca phẫu thuật diễn ra suôn sẻ. Ba tôi vượt qua cơn nguy kịch và dần hồi phục. Sau đợt đó, chú thím Năm lại trở về vùng bãi bồi, tiếp tục dãi nắng dầm sương, dốc sức làm lụng để trả nợ cho người ta. Tôi ôm niềm ơn nghĩa sâu nặng đó trong lòng, lấy đó làm động lực vươn lên. 12 năm sau. Tôi giờ đây đã trở thành sáng lập viên của một công ty xây dựng có tiếng tại thành phố, cuộc sống đã hoàn toàn sang trang. Ba tôi đã già nhưng khỏe mạnh, vui vầy bên cháu con. Còn những người họ hàng năm xưa – bác Cả và chú Ba – do làm ăn thua lỗ, sa sút phong độ nên gia cảnh dần sa sút, thường xuyên xảy ra xích mích trong gia đình. Vào ngày thượng thọ 70 tuổi của ba tôi, gia đình tổ chức một buổi tiệc ấm cúng tại quê nhà. Bác Cả và chú Ba cũng đến dự, nhưng nét mặt đầy ngượng ngùng và e dè. Đúng lúc tiệc đang diễn ra, tôi bước ra giữa sân, nắm tay chú thím Năm – lúc này tóc đã điểm bạc, gương mặt hằn sâu vết thời gian. Tôi trân trọng trao tận tay chú thím một chiếc hộp gỗ. Bên trong là cuốn sổ hồng đứng tên chú thím cho một căn nhà hai tầng rộng rãi ngay trung tâm huyện, cùng một thẻ tiết kiệm trị giá 2 tỷ đồng. Tôi cất lời trước sự chứng kiến của họ hàng: “12 năm trước, thím Năm đã dạy cháu thế nào là tình thân thực sự. Bọc tiền 150 triệu ngày ấy không chỉ cứu sống ba cháu, mà còn nuôi dưỡng nhân cách của cháu ngày hôm nay. Hôm nay, cháu xin gửi lại chú thím một phần nhỏ bé để chú thím an hưởng tuổi già, không còn phải dãi nắng dầm sương nữa.” Chú thím Năm bật khóc vì xúc động, ôm lấy tôi và ba. Ở phía góc sân, bác Cả và chú Ba cúi mặt lặng thinh, ánh mắt tràn ngập sự hối hận. Bài học về tình người năm nào vẫn nguyên giá trị: Tiền tài rồi cũng tan biến, chỉ có tình nghĩa chân thành mới vững bền cùng thời gian.