CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Sau đám cưới với một chàng trai người vùng cao mà cả gia đình tôi từng cho là “không môn đăng hộ đối”, con gái tôi bất chấp mọi lời khuyên, nhất quyết theo chồng về bản sống. Tôi và chồng phản đối đến mức gần như cắt đứt tình cảm với con, nhưng cuối cùng vẫn phải nhìn nó kéo vali rời khỏi thành phố.
Tôi cứ nghĩ vài ngày sống thiếu điện, thiếu mạng, quen với cuộc sống núi rừng, con bé sẽ chịu không nổi mà quay về.
Nhưng tôi đã nhầm.
Con gái tôi tên là Ngọc Anh, từ nhỏ lớn lên trong điều kiện đầy đủ, học hành ở thành phố, chưa từng phải tự tay nhóm bếp củi hay đi bộ hàng giờ qua đường núi. Vậy mà sau khi cưới Lử, một chàng trai người Dao quê ở vùng núi phía Bắc, nó lại vui vẻ tuyên bố:
“Con muốn về sống cùng chồng. Nhà anh ấy tuy nhỏ nhưng là nơi anh ấy lớn lên. Con không muốn anh ấy phải rời bỏ quê hương chỉ vì con.”
Câu nói ấy khiến tôi vừa thương vừa tức.
Tôi hỏi:
“Con có biết trên đó sống thế nào không? Nhà sàn giữa rừng, đường đi khó khăn, điện lúc có lúc không, điện thoại nhiều chỗ còn chẳng bắt được sóng. Con chịu được bao lâu?”
Ngọc Anh chỉ mỉm cười.
“Chồng con ở đó từ nhỏ còn sống được, tại sao con lại không?”
Bố nó nghe vậy thì nổi giận. Ông đập tay xuống bàn, tuyên bố nếu con nhất quyết đi thì tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
Ngày con gái kéo vali rời nhà, tôi đứng ngoài cổng khóc mãi.
Trước khi lên xe, tôi còn chạy theo nắm tay con:
“Có chuyện gì thì phải gọi cho mẹ. Đừng cố chịu đựng một mình.”
Ngọc Anh ôm tôi, cười rất tươi.
“Mẹ đừng lo. Anh Lử thương con lắm. Con sẽ sống tốt.”
Tôi nhìn chiếc xe chở con khuất dần cuối con phố mà trong lòng bất an vô cùng.
Hai ngày đầu, con vẫn gọi về đều đặn.
Nó kể căn nhà sàn nằm trên một quả đồi, phía sau là rừng già, trước mặt có con suối nhỏ. Buổi tối nghe tiếng côn trùng và tiếng nước chảy, hoàn toàn khác với thành phố.
Ngày thứ ba, con gọi vào lúc gần chín giờ tối.
“Mẹ ơi, hôm nay chồng con dẫn con đi hái măng. Mệt nhưng vui lắm.”
Tôi còn nghe tiếng Lử ở phía sau hỏi nó có lạnh không.
Tôi lúc ấy mới nhẹ lòng đôi chút.
Nhưng đến ngày thứ bảy, điện thoại của con gái đột nhiên không liên lạc được.
Tôi nghĩ có thể điện thoại hết pin.
Đến tối vẫn không gọi được.
Sáng hôm sau tôi tiếp tục gọi.
Không tín hiệu.
Tôi gọi cho Lử.
Thuê bao.
Nhắn tin cũng không có hồi âm.
Một ngày.
Hai ngày.
Đến ngày thứ ba, tôi không thể ngồi yên nữa.
Chồng tôi ban đầu vẫn cố trấn an:
“Có khi trên đó mất sóng. Em cứ bình tĩnh.”
Nhưng nhìn vẻ mặt ông, tôi biết ông cũng đang lo.
Cuối cùng, hai vợ chồng quyết định tìm đường lên bản.
Chúng tôi phải thuê một người địa phương dẫn đường. Đường núi quanh co, có đoạn phải bỏ xe lại rồi đi bộ. Chúng tôi vượt qua những con dốc trơn trượt, lội qua hai con suối và đi xuyên qua một khu rừng gần như không có người qua lại.
Đến gần chiều, căn nhà sàn của con gái cuối cùng cũng hiện ra sau màn sương.
Tôi vừa nhìn thấy đã thấy tim mình thắt lại.
Không có khói bếp.
Không có tiếng chó.
Không có tiếng người.
Cả căn nhà im phăng phắc.
Tôi chạy lên cầu thang gỗ, vừa chạy vừa gọi:
“Ngọc Anh! Con ơi!”
Không ai trả lời.
Cửa không khóa.
Tôi đẩy cửa bước vào.
Cảnh tượng trước mắt khiến chân tôi mềm nhũn.
Trên bàn vẫn còn một nồi thức ăn đã nguội lạnh. Hai chiếc bát đặt lệch nhau, một chiếc còn dính cơm như bữa ăn mới chỉ bắt đầu rồi đột ngột bị bỏ dở.
Chiếc áo khoác của Lử vẫn treo trên vách.
Đôi dép của con gái tôi vẫn nằm ngay cạnh cửa.
Nhưng người thì không thấy đâu.
Tôi chạy vào phòng ngủ.
Và rồi tôi chết lặng.
Chiếc váy cưới mà Ngọc Anh từng mặc trong ngày cưới bị xé rách một mảng, dính đầy đất và lá khô. Một chiếc khuyên tai của con nằm dưới sàn. Bên cạnh đó là chiếc điện thoại của nó, màn hình đã vỡ nát.
Tôi khuỵu xuống.
“Con tôi đâu rồi?”
Không ai trả lời.
Tôi bật khóc, còn chồng tôi lập tức yêu cầu người dẫn đường đi tìm những người sống gần đó.
Đúng lúc ấy, tôi nhìn thấy một thứ nằm khuất dưới gầm giường.
Một chiếc hộp gỗ nhỏ.
Tôi kéo ra.
Bên trong không có tiền hay vàng.
Chỉ có vài tờ giấy.
Một tờ giấy Ngọc Anh viết cho tôi trước khi rời nhà.
“Mẹ, nếu sau này mẹ đọc được những dòng này thì có lẽ con đã hiểu ra một chuyện mà trước đây con chưa từng nghĩ tới…”
Tay tôi run lên.
Nhưng chưa kịp đọc hết, bên ngoài bỗng vang lên tiếng bước chân.
Tôi quay phắt lại.
Một người đàn ông trung niên đứng ngoài cửa.
Ông ta nhìn chúng tôi hồi lâu rồi hỏi:
“Anh chị là bố mẹ của Ngọc Anh?”
Tôi lập tức lao tới.
“Đúng! Con gái tôi đâu?”
Người đàn ông không trả lời ngay.
Ông chỉ thở dài rồi nói:
“Muốn biết chuyện gì xảy ra, anh chị phải đi theo tôi.”
Chúng tôi theo ông xuống một con đường nhỏ phía sau nhà.
Đi khoảng hai trăm mét, tôi nhìn thấy một căn chòi gỗ cũ nằm sát bìa rừng.
Cánh cửa vừa mở ra, tôi nghe thấy tiếng con gái.
“Mẹ…”
Tôi chết sững.
Ngọc Anh đang ngồi bên trong.
Mặt nó xanh xao, trên trán có một vết xước, nhưng vẫn còn tỉnh táo.
Tôi lao tới ôm chầm lấy con.
“Con làm mẹ sợ chết khiếp!”
Nó bật khóc trong vòng tay tôi.
Nhưng điều khiến chúng tôi bàng hoàng hơn cả là người nằm trên chiếc giường phía sau.
Đó chính là Lử.
Anh ta bị thương nặng ở chân và vai, đang mê man vì sốt.
Hóa ra bảy ngày trước, Lử đưa Ngọc Anh vào rừng lấy thuốc cho mẹ anh. Trên đường về, họ gặp một vụ sạt lở sau trận mưa lớn. Lử bị đất đá cuốn trúng, còn Ngọc Anh may mắn thoát được.
Cô con gái tôi cố kéo chồng ra nhưng không đủ sức.
Điện thoại của cả hai bị rơi xuống khe đá.
Ngọc Anh sau đó phải dìu Lử vào căn chòi của một người dân bỏ hoang gần đó để chờ người đến cứu. Nhưng đường núi bị sạt lở, dân bản không thể liên lạc với bên ngoài.
Còn chiếc váy cưới?
Đó là thứ Ngọc Anh xé ra để băng vết thương cho chồng.
Tôi nhìn mảnh váy cưới dính bùn đất mà bật khóc.
Thứ mà tôi từng tưởng là dấu hiệu của một bi kịch lại chính là thứ đã giúp con gái tôi cứu người mà nó yêu nhất.
Còn chiếc hộp gỗ dưới gầm giường cũng có một bí mật.
Trong đó là lá thư Ngọc Anh viết cho tôi trước khi xảy ra tai nạn.
Nó viết rằng ban đầu nó cũng sợ cuộc sống trên núi. Nó nhớ thành phố, nhớ căn phòng của mình, nhớ những ngày chỉ cần mở vòi là có nước nóng.
Nhưng nó nhận ra Lử chưa từng ép nó phải thay đổi.
Anh chỉ âm thầm sửa lại bậc cầu thang để nó khỏi ngã, đi bộ xuống bản mua cho nó loại dầu gội nó thích, học cách nấu những món ăn thành phố mà nó từng ăn ở nhà.
Nó viết:
“Con từng nghĩ lấy chồng là phải chọn một người cho con cuộc sống đầy đủ. Nhưng rồi con mới hiểu, quan trọng nhất là người ấy có chịu cùng mình đi qua những ngày thiếu thốn hay không.”
Tôi đọc đến đó thì nước mắt rơi xuống.
Tôi từng gọi Lử là “thằng quê mùa”.
Từng nghĩ con gái mình lấy một người như vậy là thiệt thòi.
Nhưng lúc ấy, nhìn anh ta nằm bất tỉnh vì đã đẩy con gái tôi ra khỏi vùng đất đá trước khi chính mình bị thương, tôi mới thấy mình đã đánh giá một con người chỉ bằng nơi anh ta sinh ra.
Sau khi được đưa xuống bệnh viện huyện, Lử phải điều trị gần một tháng.
Tôi và chồng ở lại chăm sóc cả hai.
Trong những ngày ấy, tôi dần hiểu thêm về gia đình của Lử. Họ không giàu có, nhưng sống tình nghĩa. Người trong bản thay nhau mang thức ăn xuống bệnh viện, người góp rau, người cho gạo, có người còn đi bộ hàng chục cây số chỉ để hỏi thăm.
Tôi xấu hổ vô cùng.
Ngày Lử xuất viện, tôi chủ động bước tới trước mặt con rể.
“Lử…”
Anh nhìn tôi.
Tôi cúi đầu:
“Mẹ xin lỗi.”
Đó là lần đầu tiên tôi gọi anh là “con rể” bằng tất cả sự chân thành.
Từ hôm ấy, tôi không còn ngăn Ngọc Anh về bản nữa.
Vợ chồng nó vẫn sống trong căn nhà sàn giữa núi rừng, nhưng sau này chúng tôi góp tiền sửa lại nhà, lắp điện mặt trời và một thiết bị liên lạc để con gái có thể gọi về bất cứ lúc nào.
Mỗi lần Ngọc Anh gọi, tôi đều hỏi:
“Hôm nay trên đó lạnh không?”
Nó thường cười:
“Không lạnh đâu mẹ. Con quen rồi.”
Có lần tôi hỏi:
“Có hối hận không?”
Con gái tôi nhìn sang Lử đang nhóm bếp rồi đáp:
“Không mẹ ạ.”
Tôi cũng cười.
Bởi cuối cùng tôi hiểu ra, một người đàn ông tốt không được quyết định bởi việc anh ta sinh ra ở thành phố hay giữa núi rừng. Một cuộc hôn nhân đáng giá cũng không nằm ở căn nhà rộng bao nhiêu, mà nằm ở việc khi hoạn nạn xảy ra, người bên cạnh có sẵn sàng nắm tay mình và không bỏ chạy hay không.
Căn nhà sàn năm ấy từng khiến tôi sợ hãi.
Nhưng về sau, đó lại trở thành nơi tôi thích đến nhất.
Bởi nơi ấy đã dạy tôi một bài học mà cả đời tôi chưa từng hiểu:
Đừng vội coi thường một người chỉ vì họ có xuất phát điểm khác mình. Có khi người mình từng chê bai là “quê mùa” lại chính là người có thể bảo vệ con gái mình bằng cả mạng sống.