CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
MƯỜI NĂM SỐNG TRONG TRẠI TRẺ MỒ CÔI, TÔI ĐƯỢC GIA ĐÌNH GIÀU CÓ ĐÓN VỀ. NHƯNG NGAY NGÀY THỨ TƯ, NGƯỜI GIÚP VIỆC ĐÃ HẮT CẢ CHẬU NƯỚC LAU NHÀ LÊN NGƯỜI TÔI: “ĐỪNG TƯỞNG ĐƯỢC NHẬN NUÔI LÀ TRỞ THÀNH TIỂU THƯ! Ở CĂN NHÀ NÀY, CHẲNG CÓ AI THẬT SỰ COI MÀY LÀ NGƯỜI NHÀ ĐÂU!”
“Đứng lại! Ai cho cô bước chân vào căn phòng này?”
Một tiếng quát chói tai vang lên sau lưng, ngay sau đó, cả chậu nước lau nhà đục ngầu bị hất thẳng vào người tôi.
Nước bẩn lạnh buốt trút xuống đầu, chảy qua mái tóc rồi thấm đẫm chiếc áo sơ mi trắng mà tôi đã nâng niu suốt từ ngày hôm qua. Mùi nước lau sàn pha lẫn bụi bẩn xộc thẳng vào mũi khiến tôi phải nhăn mặt.
Tôi đứng chết lặng, hai bàn tay vẫn giữ chặt chiếc khung ảnh vừa nhặt được dưới sàn.
Người đứng trước mặt tôi là dì Hà, người giúp việc lâu năm của gia đình này. Dì chống một tay vào hông, gương mặt hầm hầm, ánh mắt nhìn tôi đầy tức giận.
Nhưng không hiểu sao, giữa vẻ hung dữ ấy, tôi lại nhận ra đôi môi dì đang run lên. Ánh mắt dì thỉnh thoảng liếc về phía chiếc khung ảnh trong tay tôi, giống như đang sợ tôi phát hiện ra điều gì đó.
Tôi tên là Nguyễn Bảo Châu, năm nay mười lăm tuổi.
Mười năm trước, khi mới lên năm, tôi bị lạc khỏi gia đình trong một phiên chợ đông người ở vùng ven thành phố. Tôi chỉ nhớ mình đã khóc rất lâu, liên tục gọi bố mẹ giữa dòng người xa lạ. Sau đó, một người phụ nữ tốt bụng đưa tôi đến cơ quan chức năng. Vì không tìm được thân nhân, tôi được chuyển vào một mái ấm trẻ em.
Mười năm trôi qua, tôi lớn lên ở đó.
Có những đứa trẻ đến rồi được gia đình đón về chỉ sau vài tháng. Cũng có những đứa trẻ chờ đợi nhiều năm rồi cuối cùng vẫn phải tự học cách trưởng thành mà không có bố mẹ bên cạnh.
Còn tôi, từ năm năm tuổi đến mười lăm tuổi, chưa từng có ai quay lại tìm.
Đôi lúc tôi tự hỏi liệu bố mẹ ruột đã qua đời hay họ thực sự không còn muốn có tôi trong cuộc đời này nữa.
Tôi từng nghĩ mình sẽ sống hết những năm tháng còn lại trong mái ấm ấy, học xong một cái nghề rồi tự kiếm sống. Nhưng mọi chuyện bất ngờ thay đổi vào tuần trước.
Hôm đó, một cặp vợ chồng trung niên tìm đến trại trẻ.
Người đàn ông tên Trần Đức Thành, khoảng ngoài năm mươi tuổi, là chủ một công ty xây dựng lớn. Vợ ông, bà Nguyễn Thanh Vân, có vẻ ngoài dịu dàng, ăn mặc sang trọng. Hai người sống trong một căn biệt thự ba tầng nằm trên đường Lê Quý Đôn, khu vực vốn nổi tiếng với những căn nhà đắt đỏ.
Họ nói muốn nhận một đứa trẻ làm con nuôi.
Ban đầu, tôi chẳng dám nghĩ đến chuyện mình sẽ được lựa chọn. Khi cô giám đốc mái ấm gọi tên, tôi còn ngỡ cô muốn giao việc gì đó.
Tôi vội thay bộ quần áo sạch sẽ nhất, gom ba bộ đồ cũ vào một chiếc túi ni lông rồi rụt rè bước ra phòng khách.
Bà Vân ngồi đối diện tôi.
Bà nhìn tôi rất lâu, từ mái tóc đến gương mặt, rồi bất chợt đưa tay che miệng. Nước mắt bà cứ thế lăn dài.
Tôi hoảng hốt, không biết mình đã làm điều gì sai.
Ông Thành ngồi bên cạnh nhẹ nhàng nắm lấy tay vợ. Một lúc sau, bà mới bình tĩnh lại, bước đến ôm lấy vai tôi.
“Sau này, con không phải sống ở đây một mình nữa. Nếu con đồng ý, chúng ta sẽ trở thành gia đình.”
Đó là lần đầu tiên sau mười năm, tôi được một người lớn ôm vào lòng và gọi bằng hai tiếng thân thương như vậy.
Tôi đã gật đầu.
Tôi cứ nghĩ từ nay mình sẽ có một mái nhà thực sự.
Thế nhưng, ngày thứ tư ở biệt thự, tôi mới hiểu rằng được bước chân vào một căn nhà giàu có không có nghĩa là mình sẽ được tất cả mọi người chào đón.
Hôm nay, bà Vân đến trường mới làm thủ tục nhập học cho tôi. Ông Thành cũng vừa đi công tác từ sáng sớm. Trong biệt thự chỉ còn tôi và dì Hà, người đã làm việc cho gia đình này gần hai mươi năm.
Buổi chiều, sau khi làm xong bài tập, tôi đi dạo quanh tầng một. Vì chưa quen với ngôi nhà rộng lớn nên tôi cứ tò mò nhìn ngắm từng căn phòng.
Cuối hành lang có một căn phòng nằm khuất sau cầu thang. Cửa không khóa, chỉ khép hờ.
Tôi vốn định đi ngang qua, nhưng nhìn thấy bên trong có một khung ảnh bị rơi dưới sàn nên mới bước vào nhặt giúp.
Trên chiếc bàn gỗ đặt cạnh cửa sổ còn có vài món đồ chơi trẻ con đã cũ, một con búp bê mất cánh tay và chiếc hộp gỗ nhỏ phủ bụi.
Tôi vừa cầm khung ảnh lên thì dì Hà bất ngờ xông vào.
“Cô đang làm cái gì ở đây?”
Tôi giật mình quay lại.
Dì Hà bước nhanh đến, giọng đầy khó chịu:
“Nhà này không có ai dạy cô phép tắc à? Mới được đưa về mấy ngày đã chạy khắp nơi lục lọi đồ đạc của người khác! Đừng tưởng được ông bà chủ nhận nuôi thì từ nay có thể muốn làm gì cũng được!”
Tôi vội vàng giải thích:
“Cháu xin lỗi dì. Cháu chỉ thấy khung ảnh nằm dưới đất nên nhặt lên thôi. Cháu không có ý xem đồ của ai cả.”
“Cô biết đây là phòng của ai không?”
Tôi cúi đầu, thành thật lắc đầu.
Dì Hà lập tức giật chiếc khung ảnh khỏi tay tôi, ôm chặt vào ngực như thể sợ tôi nhìn thấy thứ gì bên trong.
“Không biết thì càng phải tránh xa! Từ nay về sau, không được bén mảng đến hành lang này nữa. Nghe rõ chưa?”
Tôi lí nhí đáp:
“Dạ, cháu biết rồi.”
Tôi tưởng mọi chuyện đến đó là kết thúc, nhưng dì Hà vẫn chưa chịu dừng lại.
Dì nhìn xuống cổ tôi, sắc mặt bỗng thay đổi.
“Còn cái thứ cô đang đeo nữa! Tốt nhất đừng mang nó ra trước mặt bà chủ!”
Tôi ngẩn người.
Bàn tay vô thức đưa lên chạm vào sợi dây chuyền bạc cũ nằm sát cổ.
Đó là món đồ duy nhất tôi có từ khi được đưa vào mái ấm. Mặt dây chuyền được tạo hình thành nửa trái tim, trên bề mặt có khắc một chữ C nhỏ xíu.
Cô giám đốc từng nói, khi tôi được đưa đến, sợi dây đã nằm sẵn trên cổ. Vì không có giấy tờ hay thông tin gì khác nên cô giữ nguyên nó cho tôi.
Suốt mười năm, tôi chưa từng tháo ra.
Tôi ngước nhìn dì Hà:
“Nhưng đây là đồ của cháu. Cháu đeo từ nhỏ đến giờ rồi.”
“Cô nói gì?”
Dì Hà bỗng bước tới một bước.
Tôi sợ hãi lùi lại.
Dì nhìn chằm chằm vào mặt dây chuyền, ánh mắt phức tạp đến mức tôi không thể hiểu nổi.
Một lúc sau, dì nghiến răng nói:
“Tôi đã bảo cô đừng đeo nó nữa!”
Nói xong, dì đẩy tôi ra khỏi phòng rồi đóng sầm cửa lại.
Tôi đứng ngoài hành lang, đầu óc rối bời.
Tại sao dì Hà lại phản ứng dữ dội như vậy chỉ vì một sợi dây chuyền cũ?
Tôi càng không hiểu vì sao bà Vân cũng từng có phản ứng kỳ lạ khi nhìn thấy nó.
Ngày đầu tiên đến biệt thự, trong lúc bà dẫn tôi đi xem phòng ngủ, tôi vô tình cúi xuống nhặt chiếc túi nhỏ bị rơi. Sợi dây chuyền trượt ra ngoài cổ áo.
Bà Vân vừa nhìn thấy mặt dây bạc liền sững người.
Chiếc tách trà đang cầm trên tay bà rơi xuống nền gạch, vỡ tan thành nhiều mảnh.
Gương mặt bà lập tức trắng bệch. Bà nhìn tôi, đôi môi mấp máy như muốn nói điều gì nhưng không thể thốt ra lời.
Ông Thành vội vàng đỡ lấy vợ, sau đó quay sang bảo tôi cứ lên phòng nghỉ ngơi trước.
Khi ấy, tôi nghĩ có lẽ bà không thích nhìn thấy đồ trang sức cũ kỹ.
Nhưng bây giờ, sau phản ứng của dì Hà, tôi bắt đầu cảm thấy chuyện này không đơn giản như vậy.
Tôi lặng lẽ đi xuống sân sau.
Ở đó có một vòi nước dùng để rửa dụng cụ làm vườn. Tôi mở vòi, cúi đầu xối nước lên tóc và áo. Nước lạnh buốt khiến toàn thân tôi run lên.
Tôi cắn chặt môi, cố không để nước mắt rơi xuống.
Mười năm ở mái ấm, tôi đã từng bị những đứa trẻ lớn hơn bắt nạt, từng phải nhường phần ăn, từng bị người khác hiểu lầm mà không có ai đứng ra bênh vực.
Tôi luôn tự nhủ chỉ cần mình ngoan ngoãn, chăm chỉ thì mọi chuyện rồi sẽ tốt hơn.
Khi được ông bà Thành đón về, tôi đã hy vọng từ nay mình sẽ có một nơi để trở về, có người chờ mình ăn cơm và có một gia đình đúng nghĩa.
Vậy mà mới bốn ngày, tôi đã bị người giúp việc hắt nước bẩn vào người, còn bị cảnh cáo rằng không ai trong nhà coi tôi là người thân.
Tôi lau tóc bằng chiếc khăn cũ treo cạnh khu giặt đồ. Đúng lúc ấy, từ căn phòng dành cho người giúp việc phía sau bếp bỗng vang lên tiếng chuông điện thoại.
Cánh cửa chỉ khép hờ.
Tôi vốn không có ý nghe trộm, nhưng vừa định bước đi thì giọng dì Hà bất ngờ vang lên. Khác hẳn vẻ đanh đá khi nói chuyện với tôi, giọng dì lúc này nhỏ nhẹ và đầy hoảng hốt.
“Dạ, tôi đây, thưa ông.”
Tôi khựng lại.
“Con bé mới được đưa về hôm trước ấy ạ… Vâng, tôi đã nhìn thấy rồi.”
Dì Hà im lặng vài giây, sau đó hạ giọng:
“Nó vẫn đeo sợi dây chuyền đó. Đúng là nửa trái tim bạc có khắc chữ C mà ông từng nhắc đến.”
Tôi bất giác siết chặt chiếc khăn trong tay.
Dì đang nói về tôi sao?
Đầu dây bên kia dường như có người hỏi điều gì đó. Dì Hà liên tục đáp lời, giọng ngày càng run.
“Vâng, tôi chắc chắn không nhìn nhầm. Tôi đã thấy rất rõ. Nhưng ông ơi, nếu bà chủ phát hiện ra thì mọi chuyện sẽ không giấu được nữa.”
Một khoảng lặng kéo dài.
Rồi dì Hà lại nói:
“Tôi vẫn chưa nói cho con bé biết chuyện gì. Nhưng ông phải dặn mọi người khóa chiếc hộp trong tủ lại. Nếu nó vô tình mở được chiếc hộp ấy ra thì…”
Dì chưa nói hết câu đã đột ngột im bặt.
Tôi cảm thấy tim mình đập mạnh đến mức lồng ngực đau nhói.
Chiếc hộp trong tủ?
Trong căn phòng cuối hành lang cũng có một chiếc hộp gỗ phủ bụi. Có phải dì đang nói đến nó không?
Tôi vừa định bước lại gần hơn thì bàn tay vô tình va vào chiếc giỏ mây đặt cạnh cửa.
Một vật gì đó rơi xuống nền gạch.
Tôi cúi xuống nhặt lên.
Đó là một tấm ảnh cũ đã ngả màu vàng, phần góc ảnh hơi cong và có vài vết ố do thời gian.
Trong ảnh là một bé gái chừng năm tuổi, mặc chiếc váy màu hồng nhạt, tóc được tết thành hai bím nhỏ. Cô bé đang đứng trước một căn nhà, miệng cười rất tươi, hai bàn tay ôm một con búp bê.
Nhưng điều khiến tôi chết lặng chính là sợi dây chuyền trên cổ cô bé.
Đó chính xác là một nửa trái tim bạc.
Trên mặt dây chuyền có khắc chữ C giống hệt món đồ tôi đang đeo.
Tôi run rẩy lật mặt sau tấm ảnh.
Một dòng chữ viết bằng mực xanh đã phai gần hết hiện ra:
“Bảo Châu, năm tuổi. Ngày cuối cùng trước khi con bé biến mất.”
Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ ấy.
Bảo Châu.
Đó là cái tên tôi đang mang.
Vậy cô bé trong ảnh là ai? Tại sao lại có cùng tên với tôi? Và tại sao cô bé ấy cũng sở hữu một sợi dây chuyền giống hệt món đồ tôi đã đeo suốt mười năm?
Đúng lúc ấy, trong phòng giúp việc vang lên tiếng kéo ghế.
Dì Hà đã cúp điện thoại.
Tiếng dép của dì bắt đầu tiến về phía cửa.
Tôi hoảng hốt nhét tấm ảnh vào sau lưng, nhưng chưa kịp đứng thẳng thì cánh cửa đã bật mở.
Dì Hà xuất hiện.
Ánh mắt dì lập tức dừng lại trên gương mặt tôi, sau đó từ từ chuyển xuống bàn tay đang nắm chặt tấm ảnh.
“Cô… Cô vừa nhặt được thứ gì?”
Tôi chưa kịp trả lời, dì đã bước nhanh đến.
“Đưa đây!”
Dì giật lấy tấm ảnh, nhưng lần này tôi không buông tay ngay.
Tôi nhìn thẳng vào dì, giọng run run:
“Dì Hà, cô bé trong ảnh là ai ạ? Tại sao cô ấy cũng tên Bảo Châu? Tại sao lại đeo sợi dây chuyền giống cháu?”
Gương mặt dì Hà lập tức biến sắc.
Dì nhìn tấm ảnh, rồi nhìn tôi. Đôi mắt vốn luôn lạnh lùng bỗng đỏ lên.
“Cô không nên nhìn thấy thứ này.”
“Nhưng cháu muốn biết sự thật!”
Tôi nghẹn ngào:
“Có phải cháu từng sống ở căn nhà này không? Có phải bố mẹ cháu đã biết cháu từ trước nên mới nhận nuôi cháu không?”
Dì Hà im lặng.
Sự im lặng ấy khiến tôi càng bất an.
Đúng lúc đó, tiếng động cơ ô tô vang lên ngoài cổng. Một chiếc xe màu đen vừa dừng trước sân.
Tôi nhận ra đó là xe của ông Thành. Ông đã trở về sớm hơn dự định.
Dì Hà lập tức nhét tấm ảnh vào túi áo, sau đó nắm lấy cổ tay tôi.
“Nghe tôi nói đây. Dù lát nữa có chuyện gì xảy ra, cô cũng tuyệt đối không được nhắc đến tấm ảnh này với ông chủ.”
“Tại sao ạ?”
Dì nhìn tôi, môi mấp máy.
“Bởi vì…”
Dì chưa kịp nói hết câu thì một giọng phụ nữ vang lên từ phía sau.
“Chị Hà! Chị đang làm gì với con bé vậy?”
Tôi quay đầu.
Bà Vân đang đứng ở cửa bếp, trên tay vẫn cầm chiếc túi xách vừa mang từ ngoài xe vào. Gương mặt bà tái nhợt khi nhìn thấy sợi dây chuyền trên cổ tôi.
Bà bước tới, đôi mắt dán chặt vào mặt dây bạc.
“Châu… Con vẫn đeo nó sao?”
Tôi ngơ ngác gật đầu.
Bà Vân bất ngờ đưa tay ôm lấy miệng, nước mắt trào ra.
“Trời ơi…”
Ông Thành vừa bước vào nhà cũng nghe thấy tiếng vợ. Ông vội vàng tiến đến, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh cũ đang lộ ra khỏi túi áo dì Hà, bước chân ông bỗng khựng lại.
“Bà đã tìm thấy rồi sao?”
Câu nói ấy khiến tất cả mọi người im bặt.
Tôi nhìn ông, rồi nhìn bà Vân.
“Bố… Bố mẹ đang nói chuyện gì vậy?”
Đó là lần đầu tiên tôi gọi ông Thành bằng tiếng bố một cách tự nhiên. Nhưng thay vì vui mừng, gương mặt ông lại hiện lên vẻ đau đớn khó tả.
Ông Thành chậm rãi ngồi xuống trước mặt tôi.
“Châu, bố có một chuyện phải nói với con.”
Tôi siết chặt hai bàn tay.
“Chuyện gì ạ?”
Bà Vân bật khóc, bước đến ôm lấy tôi. Bà ôm rất chặt, như thể chỉ cần buông tay, tôi sẽ lại biến mất khỏi cuộc đời bà thêm một lần nữa.
“Con không phải là một đứa trẻ xa lạ mà chúng ta tình cờ nhận nuôi đâu.”
Tôi sững người.
Bà Vân run rẩy tháo chiếc dây chuyền bạc trên cổ mình xuống. Đó cũng là một mặt dây hình trái tim, nhưng là nửa còn lại.
Bà đặt hai nửa dây chuyền cạnh nhau.
Chúng khớp lại hoàn toàn, tạo thành một trái tim bạc nguyên vẹn.
Trên mặt trong của hai nửa trái tim có khắc hai chữ nhỏ: “Bảo Châu”.
Tôi không còn nghe rõ những âm thanh xung quanh nữa.
Ông Thành lấy từ trong túi áo một chiếc phong bì cũ, bên trong là bản sao giấy khai sinh và một tấm ảnh gia đình đã phai màu.
Trong ảnh, một người đàn ông trẻ tuổi đứng bên cạnh người phụ nữ đang bế một bé gái. Đứa trẻ ấy chính là cô bé trong tấm ảnh dì Hà vừa giấu đi.
Ông Thành nghẹn giọng:
“Mười năm trước, con bị lạc trong một buổi hội chợ ở quê ngoại. Bố mẹ đã tìm con suốt nhiều năm. Chúng ta đăng tin, nhờ công an hỗ trợ, đi đến rất nhiều địa phương nhưng vẫn không có kết quả.”
Bà Vân nắm lấy tay tôi:
“Bố mẹ chưa bao giờ bỏ rơi con. Mẹ chưa từng có một ngày nào ngừng tìm con cả.”
Tôi lắc đầu, nước mắt bắt đầu rơi.
“Vậy tại sao… tại sao bố mẹ lại nói nhận nuôi con? Tại sao bố mẹ không nói con chính là con gái của bố mẹ?”
Ông Thành cúi mặt.
“Bởi vì hồ sơ tại mái ấm không có đầy đủ thông tin nhận dạng. Khi nhìn thấy sợi dây chuyền của con, bố mẹ đã nghi ngờ. Nhưng chúng ta cần xác minh bằng những giấy tờ và kết quả giám định trước khi khẳng định.”
Bà Vân tiếp lời trong tiếng nấc:
“Ngày đầu tiên gặp con, mẹ đã nhận ra đôi mắt ấy. Nhưng mẹ sợ mình nhận nhầm, sợ lại hy vọng rồi thất vọng thêm một lần nữa. Mẹ muốn có thêm bằng chứng chắc chắn trước khi nói với con.”
Tôi nhìn sợi dây chuyền đã nằm trên cổ mình suốt mười năm.
Thì ra nó không phải món đồ vô nghĩa.
Nó là một nửa ký ức về gia đình mà tôi đã đánh mất.
Tôi quay sang dì Hà.
“Vậy tại sao dì lại đối xử với cháu như vậy? Tại sao dì không muốn cháu nhìn thấy những bức ảnh đó?”
Dì Hà cúi gằm mặt.
Một lúc lâu sau, dì mới bật khóc.
“Tôi xin lỗi cô… Tôi xin lỗi cháu.”
Dì kể rằng mười năm trước, sau khi tôi mất tích, bà Vân gần như suy sụp. Bà thường xuyên ngồi trong căn phòng cuối hành lang, ôm đồ chơi và xem lại ảnh của tôi. Ông Thành cũng cho người tìm kiếm khắp nơi.
Dì Hà là người chứng kiến tất cả.
Nhưng vài ngày trước, khi biết ông bà chủ muốn đón một đứa trẻ từ mái ấm về, dì đã phản đối. Dì sợ nếu đó không phải tôi, bà Vân sẽ lại đau khổ. Dì cũng không muốn một đứa trẻ xa lạ bước vào căn phòng đã được giữ nguyên suốt mười năm.
Khi nhìn thấy sợi dây chuyền trên cổ tôi, dì đã nhận ra ngay.
Dì biết tôi có thể chính là đứa trẻ mà gia đình tìm kiếm bấy lâu.
Nhưng thay vì báo ngay cho ông bà chủ, dì lại cố tình xua đuổi tôi, thậm chí còn tìm cách ngăn tôi tiếp xúc với những kỷ vật cũ.
“Dì sợ mọi chuyện bị đảo lộn. Dì sợ nếu cô chủ biết tôi đã nhận ra từ trước mà không nói, bà ấy sẽ trách tôi. Tôi đã nghĩ chỉ cần giữ im lặng thì mọi chuyện sẽ tự được giải quyết.”
Tôi nhìn dì, không nói gì.
Tôi hiểu nỗi lo của dì, nhưng không thể hiểu tại sao một người lớn lại chọn cách làm tổn thương một đứa trẻ chỉ vì sự sợ hãi của mình.
Ông Thành nghiêm giọng:
“Chị Hà đã làm việc với gia đình tôi hai mươi năm, chúng tôi luôn coi chị như người thân. Nhưng điều đó không có nghĩa chị được phép xúc phạm con gái tôi. Chuyện hôm nay, tôi sẽ giải quyết rõ ràng.”
Dì Hà cúi đầu, nước mắt rơi xuống nền gạch.
Bà Vân không trách mắng thêm. Bà chỉ kéo tôi vào lòng, nhẹ nhàng lau những vệt nước bẩn còn sót lại trên tóc tôi.
“Con gái, mẹ xin lỗi. Mẹ đã để con phải chịu tủi thân ngay trong chính ngôi nhà của mình.”
Tối hôm ấy, ông Thành đưa tôi đến bệnh viện làm xét nghiệm ADN để xác nhận quan hệ huyết thống. Trong những ngày chờ kết quả, bà Vân gần như không rời khỏi tôi nửa bước.
Bà đưa tôi đi mua quần áo, chuẩn bị sách vở, tự tay nấu những món ăn mà bà nghĩ một cô bé mười lăm tuổi sẽ thích.
Có những lúc tôi tỉnh giấc giữa đêm, vẫn thấy bà ngồi bên giường nhìn mình. Bà nói chỉ muốn chắc chắn rằng tôi vẫn ở đó, rằng lần này tôi sẽ không biến mất nữa.
Một tuần sau, kết quả xét nghiệm được trả về.
Quan hệ huyết thống mẹ con và cha con được xác nhận với độ tin cậy rất cao.
Tôi chính là Nguyễn Bảo Châu, đứa con gái thất lạc của gia đình ông Thành.
Ngày cầm tờ kết quả trên tay, bà Vân khóc đến mức không nói thành lời. Ông Thành đứng bên cạnh, bàn tay đặt lên vai tôi, đôi mắt đỏ hoe.
Còn tôi, lần đầu tiên sau mười năm, biết chính xác mình thuộc về nơi nào.
Sau đó, ông bà đưa tôi trở lại căn phòng cuối hành lang.
Cánh cửa được mở ra.
Bên trong vẫn còn nguyên chiếc bàn gỗ, con búp bê cũ và chiếc hộp nhỏ phủ bụi. Bà Vân lấy chìa khóa từ ngăn kéo, mở chiếc hộp mà dì Hà từng nhắc đến.
Bên trong là những tấm thiệp sinh nhật chưa từng được gửi, những bức thư bà viết cho tôi qua từng năm và một chiếc váy trẻ con màu hồng đã được giặt sạch, gấp ngay ngắn.
Trên mỗi phong thư đều có ghi một độ tuổi.
Sáu tuổi, bảy tuổi, tám tuổi…
Tôi đưa tay chạm vào từng chiếc phong bì, nước mắt cứ thế rơi.
Bà Vân ôm lấy tôi từ phía sau.
“Mẹ vẫn luôn viết thư cho con. Mẹ nghĩ nếu một ngày tìm được con, mẹ sẽ đưa tất cả những thứ này cho con xem.”
Tôi quay lại ôm mẹ.
Lần này, tôi không còn sợ mình sẽ bị đẩy ra ngoài nữa.
Từ hôm đó, căn phòng cuối hành lang không còn là nơi cấm đoán. Bố mẹ sửa sang lại, giữ những món đồ kỷ niệm và đặt thêm một chiếc bàn học mới cho tôi.
Còn dì Hà, sau sự việc ấy đã chủ động xin lỗi tôi nhiều lần. Ông Thành quyết định cho dì nghỉ việc một thời gian để nhìn nhận lại hành động của mình. Dù vậy, tôi không muốn chuyện của người lớn khiến căn nhà tiếp tục chìm trong căng thẳng.
Tôi không lập tức tha thứ, nhưng cũng không muốn sống với sự oán giận.
Tôi chỉ nói với dì một câu:
“Cháu từng không có gia đình suốt mười năm. Vì vậy cháu hiểu cảm giác sợ mất đi một người quan trọng. Nhưng dì đừng bao giờ trút nỗi sợ của mình lên một đứa trẻ nữa.”
Dì Hà bật khóc, cúi đầu thật thấp.
Vài tháng sau, tôi chính thức được trở về với gia đình ruột thịt. Hồ sơ và giấy tờ được hoàn tất, những thủ tục cần thiết cũng được giải quyết theo đúng quy định.
Ngày đầu tiên đến trường với tư cách con gái của ông bà Thành, tôi vẫn mang theo chiếc ba lô cũ từ mái ấm.
Bà Vân hỏi tôi có muốn đổi chiếc mới không.
Tôi mỉm cười lắc đầu.
“Con muốn giữ lại nó. Vì nó đã cùng con đi qua những năm tháng trước khi con tìm được bố mẹ.”
Bà không nói gì, chỉ nhẹ nhàng vuốt tóc tôi.
Tối hôm đó, cả gia đình cùng ngồi ăn cơm. Ông Thành gắp thức ăn vào bát tôi, bà Vân liên tục hỏi tôi có ăn ngon miệng không.
Một bữa cơm bình thường thôi, nhưng với tôi, đó là điều từng tưởng chừng không bao giờ có được.
Tôi từng nghĩ người được nhận nuôi sẽ phải cố gắng ngoan ngoãn, chịu đựng và làm hài lòng mọi người để được ở lại trong một gia đình.
Nhưng sau tất cả, tôi hiểu rằng tình thân không nên được xây dựng bằng sự chịu đựng của một người.
Tôi đã mất mười năm để tìm lại gia đình, nhưng điều khiến tôi hạnh phúc nhất không phải căn biệt thự rộng lớn, những bộ quần áo mới hay cuộc sống đủ đầy.
Mà là mỗi khi đi học về, phía sau cánh cửa luôn có một người chờ tôi.
Và lần đầu tiên sau mười năm, khi màn đêm buông xuống, tôi có thể yên tâm nhắm mắt mà không còn lo sáng mai mình sẽ phải rời khỏi nơi này.
Bởi vì cuối cùng, tôi đã tìm được một nơi thật sự thuộc về mình.
Một mái nhà không phải nơi có bao nhiêu tiền bạc, mà là nơi dù ngoài kia có chuyện gì xảy ra, vẫn có người mở cửa và nói với bạn rằng: “Con đã về rồi đấy à!”