
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Vừa mới đậu thủ khoa đại học, thì mẹ đã bỏ tôi mà r:a đ:i. Tôi quỳ xuống xin nhà nội lo hậu sự cho mẹ thì tất cả đều từ chối, 15 Năm Sau Các Con Bác Cả Đến công ty xin việc tôi nói đúng 1 câu, khiến họ phải t:ái m:ặt….
Tôi đứng chết lặng trên khoảng sân gạch rêu phong của căn nhà gỗ ba gian cũ kỹ. Sương sớm lạnh ngắt thấm qua chiếc khăn tang buộc vội trên trán. Đôi chân tôi run rẩy, gối khuỵu xuống nền gạch gồ ghề, đôi bàn tay bám chặt lấy vạt áo lấm lem bụi đường.
Trong căn nhà tranh xiêu quẹo ngoài đầu ngõ, người thương yêu duy nhất của tôi – mẹ tôi – đang nằm đó yên lộng giữa sự tĩnh lặng đến đáng sợ. Suốt hai ngày qua, căn nhà chỉ có tiếng gió lùa qua kẽ vách. Trong túi áo ngực của tôi là tờ giấy báo đỗ Thủ khoa ngành Bác sĩ Đa khoa của Trường Đại học Y Hà Nội, một tờ giấy đã nhăn nhũn vì mồ hôi và những giọt nước mắt lặng lẽ. Tôi vừa tròn mười tám tuổi, và mục đích duy nhất tôi có mặt ở đây là cúi đầu cầu xin dòng họ gánh vác giúp chi phí lo liệu nốt chặng đường cuối cùng cho mẹ.
Sân nhà nội đông đủ không thiếu một ai. Ông bác trưởng cùng hai người chú ruột thong thả ngồi bên bàn trà, nhấp từng ngụm nước chè xanh nghi ngút khói như thể tôi chỉ là một kẻ lạ qua đường. Không một tiếng hỏi thăm, không một cái nhìn xót xa dành cho đứa cháu đang run lên vì kiệt sức.
“Cháu không xin không của các bác, các chú. Cháu xin vay… Mai này bước chân vào đời, cháu nhất định làm lụng trả lại đủ cả gốc lẫn lời,” tôi khàn giọng, sống mũi cay xé.
Bác Cẩn – người đứng đầu gia tộc – chậm rãi đặt chén trà xuống bàn, giọng lạnh như băng: “Bố cháu ngày trước đã quyết định tách họ tự lập thì giờ tự gánh lấy hậu quả.”
“Nhưng mẹ cháu không còn nữa rồi! Bác biết rõ mẹ cháu nằm đó hai ngày nay mà…” Tôi nghẹn ngào, ngẩng đầu nhìn lên. Bác quay mặt đi chỗ khác. Bà nội ngồi trong nhà, tay cầm tràng hạt thong dong, coi như không hề hay biết sự tồn tại của tôi.
Lúc ấy, Quốc Bảo – đứa con trai cưng của bác Cẩn, người luôn được cả họ chiều chuộng – thong dong từ nhà trên bước xuống. Anh ta nhìn tôi bằng ánh mắt coi thường rồi buông một câu cay đắng: “Đỗ đại học thì sao chứ? Con gái học cho lắm rồi cũng theo chồng, họ hàng bỏ tiền ra thì được lợi lộc gì?”
Câu nói ấy như một lưỡi dao cứa vào tim tôi. Bác Lâm – người chú út vốn tính hiền lành – ngập ngừng thò tay vào túi quần. Nhưng chưa kịp rút ra, tiếng hắng giọng sắc lẹm của bà nội đã vang lên: “Tiền của ai người nấy giữ, không ai được can thiệp!” Bàn tay chú Lâm khựng lại rồi từ từ rút ra, trống rỗng.
Tôi cay đắng hiểu ra rằng, trước sự ích kỷ và áp lực của tập thể, sự thiện lương yếu ớt sẽ chẳng thể cứu rỗi được ai.
Tôi lẳng lặng đứng dậy, cúi đầu chào rồi quay lưng bước ra cổng. Phía sau lưng, tiếng rì rào bàn tán dịu đi trong tiếng mưa bắt đầu nặng hạt. Tôi gạt đi giọt nước mắt trên má, đi bộ suốt ba cây số đường đất trơn trượt để trở về gian nhà nhỏ của hai mẹ con.
Về đến ngõ, mùi hương trầm quyện trong không khí ẩm ướt làm ngực tôi đau nhói. Mẹ tôi nằm đó, mái tóc điểm bạc đã được ai đó chải chuốt gọn gàng. Nếu có thể đổi lấy một lần mẹ tỉnh lại, gật đầu cười với tôi, tôi sẵn sàng xé bỏ tờ giấy báo nhập học này ngay lập tức.
Tuổi thơ tôi vốn dĩ trôi qua trong sự ghẻ lạnh của nhà nội chỉ vì mẹ tôi là dân nghèo co ro, lại không có của cải mang về. Đến khi tôi ra đời là con gái, sự ghẻ lạnh ấy càng hằn sâu. Bố tôi mất sớm vì bệnh hiểm nghèo, một mình mẹ tảo tần lam lũ: từ gánh thuê, bóc ngô đến rửa bát thuê ngoài chợ để nuôi tôi ăn học. Mẹ giấu tôi căn bệnh tim bẩm sinh ngày càng nặng, chỉ im lặng chịu đựng cơn đau mỗi đêm để gom góp từng đồng cho tôi thi đại học.
Ngày nhận tin tôi đỗ Thủ khoa, mẹ ôm tôi khóc nức nở rồi gục xuống ngay trước thềm nhà. Lời cuối cùng mẹ thì thào với tôi trên chuyến xe cấp cứu nghèo xơ xác chỉ vỏn vẹn hai từ: “Học đi…”
Tối hôm đó, tôi ôm chiếc áo sơ mi cũ mẹ vá dở cho tôi trước ngày thi, gục đầu bên linh cúng mà nấc lên trong vô vọng. Cô Thắm nhà bên cạnh sang thắp nhang, đứng nhìn tôi mà nước mắt ngắn dài. Chú Tuấn – chồng cô – không nói một lời nào, chỉ lẳng lặng nhìn ra khoảng sân tối mịt rồi bước nhanh ra ngõ.
Sáng hôm sau, khi sương mù còn chưa tan, tôi nghe tiếng cô Thắm hốt hoảng kêu lên ngoài cổng: “Anh ơi! Con bò giống nhà mình đâu mất rồi?”
Tôi bàng hoàng chạy sang. Chiếc cọc dây thừng trống hẻm, máng cỏ còn dở dang. Con bò giống ấy là tài sản lớn nhất, là toàn bộ cơ nghiệp của gia đình chú cô tích góp suốt mấy năm qua.
Đúng lúc đó, chú Tuấn dắt chiếc xe đạp tàn tã về đến thềm, ống quần xắn cao dính đầy bùn đất. Chú không đáp lời vợ, chỉ lẳng lặng thò tay vào bên trong lớp áo bông cũ, rút ra một bọc nilon được buộc vô cùng cẩn thận…
Chú Tuấn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nói ấp êm nhưng đầy uy lực: “Bò mất thì ra sức làm lụng mấy năm sẽ mua lại được, còn mẹ cháu thì chỉ có một trên đời thôi. Cầm lấy số tiền này mà chu toàn cho mẹ, rồi sửa soạn lên thành phố nhập học nghe con!”
Tôi gục xuống ngay trên khoảng sân đất còn đẫm sương đêm, ôm chặt lấy đôi chân dính đầy bùn non của chú mà khóc nấc lên thành tiếng. Trong lúc những người thân thích máu mủ quay lưng ngoảnh mặt, thì một gia đình hàng xóm nghèo khó lại chấp nhận bán đi cả cơ nghiệp tích góp cả đời để giữ lại chút tự trọng cuối cùng cho mẹ tôi.
Buổi tiễn đưa mẹ diễn ra trong sự thương xót của dân làng. Nhà nội không một ai xuất hiện, duy chỉ có chú Lâm tranh thủ tạt qua thắp nén nhang, dúi vội vào tay tôi chút tiền lẻ rồi lẳng lặng rời đi vì sợ gia đình quở trách.
Sau ngày ấy, tôi xếp gọn chiếc áo sơ mi vá dở của mẹ vào chiếc hòm gỗ nhỏ, mang theo tờ giấy báo nhập học và tấm lòng bao la của vợ chồng chú Tuấn để bước ra thế giới rộng lớn.
15 năm trôi qua.
Tôi không còn là cô gái nghèo co ro quỳ gối xin từng đồng tiền năm nào. Bằng sự nỗ lực phi thường, vừa học vừa làm đủ mọi công việc từ gia sư, phụ việc phòng thí nghiệm cho đến quản lý y tế, tôi từng bước vươn lên. Tôi trở thành sáng lập viên kiêm Tổng Giám đốc của một Tập đoàn Dược phẩm – Y tế hàng đầu cả nước.
Tôi đã đón vợ chồng chú Tuấn lên thành phố, phụng dưỡng hai người trong một căn biệt thự ấm cúng như cha mẹ ruột. Con cái của chú cô cũng được tôi tài trợ toàn bộ chi phí học hành và có công ăn việc làm ổn định.
Một buổi sáng mùa thu, thư ký gõ cửa phòng làm việc của tôi: — Thưa Tổng Giám đốc, bên ngoài có hai ứng viên xin ứng tuyển vị trí quản lý kinh doanh. Họ không đủ tiêu chuẩn vòng hồ sơ nhưng nhất quyết không chịu về, nói là người thân ở quê lên tìm chị.
Tôi xem danh sách: Quốc Bảo và Quốc Nam – hai người anh họ con bác Cẩn năm xưa.
15 năm biến đổi, gã anh họ từng nhếch môi khinh khỉnh nhìn tôi ngày nào giờ đây khoác trên mình bộ vest giá rẻ, dáng vẻ rụt rè, cúi đầu bước vào phòng làm việc lộng lẫy của tôi. Ban đầu Bảo không nhận ra tôi, nhưng khi nhìn thấy chiếc khung kính trân trọng đặt trên bàn làm việc – bên trong lồng chiếc áo sơ mi cũ kỹ với những đường chỉ vá xiêu vẹo – mặt gã chợt xám bệt lại.
“Phương… Phương đấy ư em? Anh… anh là Bảo đây! Dạo này ở quê khó khăn quá, các bác bảo hai anh em lên đây tìm em, nhờ em thu xếp cho hai anh em một vị trí lãnh đạo trong tập đoàn…” – Bảo ấp úng, giọng điệu đồn đẩy sự thân tình gượng gạo.
Tôi chậm rãi đứng dậy, nhìn thẳng vào mắt hai người anh họ – những người năm xưa từng ung dung ngồi uống trà xem mẹ tôi nằm lạnh lẽo trong gian nhà nghèo.
Tôi không mắng chửi, không oán thán, cũng chẳng cần phô trương quyền lực. Tôi chỉ nhìn họ bằng ánh mắt thản nhiên và cất giọng bình thản:
“Tiền của ai người nấy giữ, người nào lo phần người nấy.”
Bảo sững người, mặt cắt không còn một giọt máu. Hai người họ lặng lẽ cúi đầu bước ra khỏi phòng, cánh cửa gỗ lim dầy dặn khép lại, trả lại sự yên bình tuyệt đối.
Tôi bước lại gần khung kính, khẽ chạm tay lên nếp vá xiêu vẹo của mẹ. Ngoài cửa sổ tòa nhà cao tầng, ánh nắng thu vàng ươm đang trải dài khắp thành phố. Mẹ ơi, con đã sống một cuộc đời đàng hoàng và trọn vẹn đúng như những gì bố mẹ từng mong mỏi!