
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Vì để chữa bệnh cho bốtôi đã quyết định lấy chồng xa để nhận được số tiền chữa bệnh đó, tôi không ngờ mình phải hầu cả sáu người đàn ông và mất tất cả…..
Đêm nay, gió ngoài hiên rít từng hồi lạnh buốt, nhưng lòng tôi còn lạnh hơn căn nhà trống vắng này. Tôi quỳ sụp xuống giữa nền nhà lạnh ngắt, trước mặt là sáu người đàn ông đang ngồi im lặng. Bàn tay tôi run rẩy nắm chặt mảnh giấy học trò nhàu nát, nét chữ của em gái nguệch ngoạc đè lên từng dòng kẻ mờ nhạt: “Chị ơi, bố mất rồi… Mất ngày 23 âm. Cả nhà ngóng tin chị từng ngày mà bặt vô âm tín…”
Nước mắt trào ra nghẹn đắng ở cổ họng, tôi bật khóc nấc lên và dùng mấy từ tiếng bản địa ít ỏi học lỏm được để cầu xin: “Bố tôi… mất rồi. Cho tôi về chịu tang mười ngày thôi… Rồi tôi sẽ quay lại, xin các người…”
Cái quạt trần cũ kỹ trên cao quay cót két từng nhịp mệt mỏi. Bố chồng tôi thong thả xỉa răng, đoạn mới chậm rãi cất lời bằng thứ tiếng mà tôi dẫu không cần người dịch cũng hiểu rõ từng ý lạnh lùng: “Vé máy bay đắt đỏ bằng mấy tạ thóc lúa. Ruộng đồng thì đang mùa gặt dở dang. Người đã chết rồi, mày có gào khóc thì ông ấy sống lại được sao?”
Tôi quay sang nhìn chồng. Anh ta chỉ lặng lẽ ngồi co ro ở góc phản, cúi gằm mặt, dùng móng tay cạo liên tục một vết bẩn nhỏ trên gối quần. Anh ta cứ cạo miết như thế, từ lúc tôi quỳ xuống cho đến tận khi đôi chân tê cứng phải đứng lên, tuyệt nhiên không một lần dám ngước nhìn vợ lấy một cái.
Đêm hôm đó, trốn sau góc chuồng lợn tối tăm, tôi xếp tạm ba viên gạch đỏ làm bàn thờ cho bố, phủ lên trên là chiếc khăn tay cũ kỹ mà bố đã đưa cho tôi ngày tiễn ở sân bay. Chiếc khăn đã ố vàng theo năm tháng và thấm đẫm những giọt nước mắt bất lực của một thời tuổi trẻ mà cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không dám dũng cảm đối diện trọn vẹn.
Tôi đã gạt bỏ tất cả để bước chân đi xa nhằm cứu lấy người cha đang hấp hối. Thế nhưng rốt cuộc, cái giá tôi phải trả là sự cay đắng khi đến mặt bố lần cuối cũng chẳng được nhìn.
Năm ấy, tôi vừa tròn đôi mươi, độ tuổi đẹp nhất của đời người con gái. Bố tôi mang trong mình trận ho dai dẳng từ mùa ngô qua mùa gặt, đến khi đi khám bác sĩ mới tá hỏa phát hiện mắc bệnh lao phổi nặng, cần lộ trình điều trị dài ngày và tốn kém. Nhà có gì giá trị đều lần lượt bán sạch từ đàn lợn trong chuồng đến mấy thúng thóc găm trong góc, nhưng số tiền ấy vẫn như muối bỏ biển, buộc gia đình phải đi vay mượn khắp nơi. Mẹ thường giấu giếm kẹp mấy tờ giấy nợ nhàu nát dưới lọ muối trên chạn bát, tưởng rằng giấu kín thì tôi sẽ không hay biết. Nhưng tôi thấy hết. Cảm giác lúc ấy không đơn thuần là nỗi buồn, nó nặng trĩu tựa như có ai đó nhẫn tâm đặt lên đôi vai gầy guộc của tôi một bao thóc nặng trịch rồi lạnh lùng ra lệnh cứ đứng yên như thế, tuyệt đối không được phép hạ xuống.
Và rồi, bà mối ở làng bên xuất hiện như một định mệnh trớ trêu, tay phe phẩy chiếc nón lá cũ: “Bên nhà trai ở xứ người khấm khá lắm, điều kiện đầy đủ, máy cày xình xịch tận sân, lại thêm cậu con trai hiền lành, chịu khó. Gả sang đó sướng như tiên, đàn bà phụ nữ chẳng phải lội bùn cấy hái vất vả như ở quê mình đâu.” Tôi nghe vậy liền co rúm đôi chân bám đầy vết bùn khô vào gầm ghế, lòng đầy e sợ. Cho đến khi bà nhắc đến khoản tiền lớn mà nhà trai chịu trả trước để lo liệu, tôi lén nhẩm tính con số trong cuốn sổ nợ bìa xanh của mẹ. Số tiền ấy… vừa vặn khớp hoàn toàn.
Mẹ tôi đã khóc nghẹn ngào suốt ba đêm ròng, mặt quay chặt vào bức tường loang lổ: “Nợ nần thì để mẹ tự cày cuốc trả dần, mẹ quyết không đem con ra đổi lấy tiền bạc.” Nghe mẹ nói, tôi chỉ biết nuốt ngược nước mắt vào trong, dối lòng rằng bản thân rất thích đi xa để mở mang tầm mắt, biết đó biết đây.
Ngày ở sân bay quốc tế, trước lúc qua cửa kiểm soát, bố thọc tay vào túi áo lấy ra chiếc khăn tay đã sờn cũ, một góc vải được vá cẩn thận bằng chỉ trắng nổi bật trên nền vải nâu sẫm: “Con cầm lấy mà lau mặt khi cần. Xứ người lạ nước lạ cái, phải biết tự chăm sóc mình.” Nhận lấy di vật từ tay bố, tôi quay gót đi thẳng một mạch vào trong nội vi, tuyệt đối không dám ngoảnh đầu lại phía sau dù chỉ một giây. Tôi sợ rằng nếu chỉ cần nhìn thấy bóng lưng còng của bố thêm một lần nữa, chân tôi sẽ khựng lại và sự kiên cường vừa dựng lên sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Giá như… giá như khoảnh khắc định mệnh ấy, tôi đủ dũng cảm quay đầu lại…
Buổi cơm đầu tiên tại gia đình nhà chồng ngoại quốc diễn ra trong bầu không khí ngột ngạt đến khó thở. Tôi đứng chết trân ở cửa bếp, cẩn thận đếm đi đếm lại số lượng bát đũa trên mâm: đúng bảy chiếc. Bố mẹ chồng, người chồng lặng lẽ của tôi, cùng bốn người em chồng chưa vợ, trong đó đứa út vừa tròn mười sáu tuổi. Ban đầu, tôi ngây thơ nghĩ chắc gia đình có khách quý ghé thăm. Nhưng ngày qua ngày, bữa nào mâm cơm cũng đủ đúng bảy chiếc bát ấy. Cả gia đình ăn uống trong một sự im lặng đáng sợ, gần như tuyệt đối. Chỉ cần ai đó lỡ tay cười lớn một chút, bố chồng sẽ lập tức gõ mạnh đầu đũa xuống mép mâm một tiếng “cốc” khô khốc, lập tức không gian chìm vào sự tĩnh lặng như tờ.
Ngay ngày hôm sau bước chân về nhà chồng, mẹ chồng đột nhiên cầm một chiếc thước dây cũ kỹ, vòng qua vòng eo và hông tôi rồi thô bạo ấn mạnh vào vùng thắt lưng như thể những tay thương lái đang tuyển chọn lợn giống ngoài phiên chợ vùng cao. Đo đạc xong, bà gật đầu hài lòng với chồng mình. Lúc đó, tôi ngu ngơ tưởng rằng mẹ đo để may cho con dâu bộ quần áo mới. Thế nhưng thấm thoắt mười năm trôi qua, tôi chưa từng nhận được lấy một mảnh vải hay một chiếc áo tử tế từ tay bà.
Nằm sâu trong buồng ngủ của bố chồng có một chiếc hòm sắt màu xanh đậm, được khóa cẩn thận bằng hai lớp ổ khóa lớn. Ngay những ngày đầu mới đặt chân sang xứ người, chính tay tôi đã phải ngoan ngoãn nộp toàn bộ hộ chiếu và giấy tờ tùy thân cho ông cất giữ, bởi bà mối đã dịch lại rằng làm thế để tránh thất lạc. Chiếc hòm đựng sổ đỏ ở nhà quê bỗng hóa thành một khái niệm khác ở đây – chiếc hòm sắt ấy chính là thứ đã giam cầm cả cuộc đời, tự do và tuổi trẻ của tôi vào trong đó.
Đến tuần thứ ba, bà mối lại xuất hiện. Toàn bộ các thành viên trong gia đình ngồi kín mít chiếc phản gỗ lớn giữa nhà. Bà ta thản nhiên dịch lại từng yêu cầu của gia đình nhà chồng như thể đang đọc bảng giá hàng hóa ngoài chợ: “Bắt đầu từ hôm nay, cô đã là dâu trưởng trong nhà. Mọi việc từ cơm nước bếp núc, giặt giũ quần áo, chăn nuôi lợn gà cho đến việc đồng áng nặng nhọc, một tay cô phải gánh vác lo toan cho bố mẹ chồng và bốn cậu em chồng. Nhưng nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng nhất là cô phải sinh được cho dòng họ này một đứa con trai nối dõi tông đường. Nhà này đã ba đời độc đinh. Bố chồng cô bỏ ra khoản tiền lớn không phải để rước một kẻ ăn bám.”
Tôi nghe xong liền sững sờ, cố kiềm chế sự uất ức rồi hỏi thẳng: “Thế nếu cháu sinh ra con gái thì sao?”
Bà ta bật cười khinh miệt như đang bàn chuyện thời tiết ngày mai: “Thì lại tiếp tục mang thai đẻ nữa chứ sao phải hỏi.”
Nghe đến đây, tôi không thể nhịn được nữa, đứng bật dậy khiến chiếc ghế nhựa đổ rầm xuống nền nhà. Tôi hét lên bằng tiếng mẹ đẻ, uất nghẹn khẳng định rằng mình là con người, là người vợ đàng hoàng chứ không phải thứ công cụ đẻ thuê hay kẻ ở đợ không công. Dứt lời, tôi quay phắt sang nhìn chồng, mỏi mòn chờ đợi ở anh ta một câu nói bảo vệ vợ, dù chỉ là một câu ngắn ngủi thôi cũng đủ. Thế nhưng anh ta vẫn cứ cắm cúi nhìn chằm chằm xuống nền gạch hoa mà ngày nào tôi cũng lau chùi sạch sẽ. Vạt tóc gáy mới cắt của anh ta trắng phau một vệt. Nhìn đỉnh đầu bạc nhược ấy, tôi hiểu rằng cuộc đời mình chính thức khép lại từ đây.
Đêm hôm đó, tôi lặng lẽ dốc ngược chiếc túi xách cá nhân ra xem còn sót lại chút kỷ niệm gì không. Rơi ra ngoài là chiếc lược nhựa cũ, gói kim chỉ nhỏ của mẹ và chiếc khăn tay đượm mùi của bố. Duy chỉ có ngăn đựng hộ chiếu và giấy tờ tùy thân là trống hoác, lạnh lẽo.
Đến năm thứ ba làm vợ xứ người, tôi mang thai đứa con đầu lòng. Ngoại trừ việc không phải đi gánh nước giếng làng xa xôi nữa, mọi cực hình và công việc nặng nhọc khác vẫn đè nặng lên đôi vai tôi y hệt như cũ. Mẹ chồng thản nhiên tuyên bố rằng phụ nữ mang bầu càng vận động nhiều, lao động chăm chỉ thì sinh nở càng dễ dàng, nhanh chóng.
Đến tháng thai kỳ thứ sáu, những cơn mưa dầm dề rả rích kéo dài mấy ngày liền khiến tôi vô cùng lo lắng cho mấy bao ngô vàng ươm cất ngoài lán trống có nguy cơ bị ẩm mốc. Lúc ấy, đàn ông trong nhà đều đi vắng cả, mẹ chồng thì kêu đau lưng nằm liệt trong buồng không chịu động chân tay. Chẳng còn cách nào khác, tôi đành trùm vội chiếc áo mưa nilon mỏng manh, đội chiếc nón lá mang theo từ quê nhà sang, rồi gồng mình ôm từng bao ngô nặng trĩu trước bụng bầu vượt mặt, dò dẫm bước đi qua con đường bờ ruộng lầy lội, nhão nhoét bùn đất.
Đến chuyến vận chuyển thứ tư, do sức nặng đè ép cùng nền đất trơn trượt, bờ ruộng bất ngờ sụt lở ngay dưới chân tôi. Tôi ngã sấp mặt xuống vũng bùn lầy, bụng bầu đập mạnh xuống đất. Trong khoảnh khắc chới với ấy, tôi nghe rõ tiếng chiếc nón lá gãy rôm rốp ngay dưới thân người mình.
Mặt áp chặt vào lớp bùn lầy lạnh ngắt, xung quanh nồng nặc mùi rơm rạ mục nát ngai ngái, tiếng mưa vẫn rơi ràn rạt đập mạnh lên lớp áo nilon phát ra những âm thanh chát chúa. Ngay sau đó, một cơn đau buốt thấu xương từ sâu trong bụng ập đến, bóp nghẹt và thắt chặt từng nhịp dồn dập. Tôi hoảng loạn gọi lớn “Mẹ ơi…” bằng tiếng mẹ đẻ nghẹn ngào, mọi từ ngữ tiếng bản địa học lỏm được bỗng chốc bay biến sạch sành sanh khỏi trí nhớ. Ngôi nhà chỉ cách đó chừng trăm mét, nhưng cửa đóng then cài im ỉm, tiếng mưa giông ào ào đã nuốt chửng hoàn toàn tiếng kêu cứu tuyệt vọng của tôi. Bằng chút sức lực cuối cùng và bản năng người mẹ, tôi cắn chặt răng, tự mình bò lết từng chút một về hướng hiên nhà bằng cả đôi bàn tay rớm máu và hai đầu gối tê dại.
Cánh cửa gỗ nặng nề kẹt mở, mẹ chồng bước ra hiên, lạnh lùng nhìn tôi đang nằm la liệt bê bết bùn đất từ đầu đến chân. Câu nói đầu tiên thốt ra từ miệng bà không phải là sự xót xa hay hỏi han tình trạng của đứa cháu nội, mà là câu hỏi vô tình đến tàn nhẫn: “Thế còn mấy bao ngô đâu rồi, mày vứt bỏ cả ngoài ấy à?”…
Lời nói ấy như từng lưỡi dao sắc nhọn đâm thấu tâm can tôi. Tôi lịm đi trong cơn đau xé ruột xé gan và sự ngỡ ngàng tột cùng trước lòng người tàn nhẫn. Đến khi tỉnh dậy, tôi đã nằm trên chiếc giường chật hẹp ở trạm y tế xã. Bác sĩ báo tin đứa trẻ trong bụng tôi đã không còn giữ được. Đau đớn hơn, tai biến sau lần sẩy thai tồi tệ đó đã vĩnh viễn tước đi khả năng làm mẹ của tôi.
Khi trở về nhà, thái độ của gia đình chồng thay đổi hoàn toàn. Từ một người hầu quật quật làm việc, tôi trở thành một kẻ “vô dụng” trong mắt họ. Sự ghẻ lạnh, xua đuổi hiện rõ trên từng nét mặt. Bố chồng nhìn tôi bằng ánh mắt hình viên đạn, mẹ chồng chửi rủa không tiếc lời vì cho rằng số tiền họ bỏ ra đã “ném qua cửa sổ”, còn người chồng nhu nhược thì chỉ biết lánh mặt, không một lời xót thương. Họ không muốn nuôi một đứa con dâu không thể đẻ nối dõi tông đường, nhưng cũng chẳng đời nào chịu bỏ tiền mua vé cho tôi về nước.
Đêm hôm đó, nằm trong gian bếp lạnh lẽo, tôi đưa tay sờ lên chiếc khăn tay cũ của bố. Những vệt loang nổ trên lớp vải sờn như tiếp thêm cho tôi một nguồn sinh khí kỳ lạ. Bố đã mất rồi, tôi không thể chết mòn ở chốn địa ngục trần gian này nữa. Tôi phải sống, phải tự giải thoát cho chính mình.
Tôi bắt đầu âm thầm lên kế hoạch. Mỗi lần đi chợ mua rau hay làm việc đồng áng, tôi tranh thủ học thêm từ ngữ, quan sát đường xá và cẩn thận tích trữ từng đồng tiền lẻ thối lại. Tôi chủ động tiếp cận một người phụ nữ đồng hương làm việc tại tiệm tạp hóa ở thị trấn xa. Chị ấy tốt bụng hướng dẫn tôi cách liên lạc với tổ chức cứu trợ phụ nữ và cơ quan đại diện ngoại giao để xin trợ giúp pháp lý.
Cơ hội cuối cùng cũng đến vào một ngày mùa đông ảm đạm. Nhân lúc cả gia đình chồng kéo nhau sang làng bên dự tiệc cưới, chỉ còn người em út trông nhà, tôi đã vờ đau bụng rồi lén bẩy khóa căn buồng ngủ. Bàn tay tôi run rẩy nhưng kiên định cạy nắp chiếc hòm sắt xanh, lấy lại tờ hộ chiếu vốn dĩ thuộc về mình. Tôi chỉ kịp nhét chiếc khăn tay của bố vào ngực áo, không cầm theo bất cứ tài sản nào khác, rồi cắm đầu chạy thục mạng ra đường lớn.
Tôi chạy như chưa từng được chạy. Gió lạnh xát vào mặt đau nhói, nhưng lòng tôi rực cháy một niềm khao khát tự do mãnh liệt. Với sự trợ giúp của những người tốt bụng và đại sứ quán, sau hơn một tháng hoàn tất các thủ tục pháp lý gian nan, cuối cùng tôi cũng đặt chân lên chuyến bay trở về Việt Nam.
Khoảnh khắc bánh xe máy bay chạm xuống đường băng Tân Sơn Nhất, nước mắt tôi trào ra như mưa. Tôi bước ra khỏi cửa sân bay, hít một hơi thật sâu không khí quê hương thân thuộc. Dù mảnh đất quê nhà giờ đây thiếu vắng bóng hình của bố, nhưng tôi biết, ở một nơi nào đó trên cao, bố vẫn đang mỉm cười dõi theo từng bước chân của con gái. Mười năm thanh xuân trôi qua như một cơn ác mộng dài, nhưng từ hôm nay, tôi đã đòi lại được cuộc đời của chính mình.