
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Nh:ẫn t:âm để lại Bé Trai 2 Tuổi Ở Bệnh Viện. Được Lao Công Cưu Mang – 20 Năm Sau, Bố Mẹ Khóc Xin Tha Thứ!….
Dãy ghế băng sát bức tường gạch men tỏa ra hơi lạnh cắt da cắt thịt. Trái ngược với sự ồn ào vội vã của một trung tâm y tế tuyến huyện, trên chiếc ghế ấy có một đứa trẻ tầm hai tuổi đang co quắp như một chiếc lá khô bị gió cuốn vào góc tối.
Đó chính là tôi của hai mươi năm trước. Tôi không hề có bất kỳ ký ức nào về đêm giáp Tết nghiệt ngã ấy. Tất cả những gì tôi biết về nguồn cội của mình đều qua lời kể nghẹn ngào của mẹ nuôi – người đã dùng cả cuộc đời để vá víu lại số phận tan vỡ cho tôi. Mẹ bảo đêm đó tôi sốt cao đến mức mê man, môi tím tái, chân chỉ còn duy nhất một chiếc dép vải, cổ họng đặc quánh vì khóc. Bệnh tình tiến triển nặng, nguy cơ biến chứng rất cao. Thế nhưng, người thân duy nhất đi cùng tôi đã lặng lẽ rời khỏi bệnh viện ngay trước khi ánh bình minh kịp ló rạng.
Tôi tên Trần Hoàng Nam, năm nay hai mươi hai tuổi, đang là sinh viên năm cuối ngành Y đa khoa. Nếu ai đó hỏi tôi có từng giận hay trách nợ người đã sinh ra mình không, những năm tháng tuổi thơ tôi sẽ gật đầu không chút hứa hẹn. Nhưng thời gian trôi qua, khi đã khoác lên mình chiếc áo blouse trắng, tôi nhận ra có những vết thương sâu thẳm chẳng thể nào khâu lành chỉ bằng vài ba từ tha thứ.
Rạng sáng hôm ấy, người đàn ông đi cùng đứa trẻ đã kéo người phụ nữ ra ngoài hành lang. Một vài người nuôi bệnh nhân đi ngang qua còn nghe thấy tiếng cãi vã đứt quãng: nếu tiếp tục chạy chữa, cả nhà sẽ rơi vào cảnh nợ nần kiệt quệ. Người mẹ trẻ níu lấy tay chồng khóc nức nở, nhưng cuối cùng bước chân của họ vẫn rời đi. Họ bỏ lại một chiếc túi vải cũ kỹ đựng hai bộ đồ sờn vai, một mảnh giấy nhỏ ghi vỏn vẹn họ tên, cùng vài dòng chữ viết vội bằng mực tím đã nhòe vì giọt nước mắt: “Gia cảnh quá túng thuẫn, kính mong người tốt bụng dang tay cứu giúp cháu.”
Người đầu tiên vấp phải chiếc túi ấy lúc bốn giờ sáng là cô Thu, nhân viên vệ sinh của trung tâm y tế. Cô Thu khi ấy ngoài bốn mươi, góa chồng sớm và sống đơn độc một mình. Nghe tiếng thở khò khè yếu ớt, cô vội vã chạy lại và hoảng hốt khi chạm vào làn da nóng như than rực của đứa trẻ. Cô vội ôm ghì lấy đứa bé vào lòng. Tôi hé mắt nhìn, đôi môi khô nứt khẽ mấp máy gọi “mẹ” rồi lịm đi.
Cô Thu hoàn toàn không biết đứa trẻ này là ai. Cô chỉ biết trong chiếc túi vải sần sùi của mình đang có hơn một triệu đồng – khoản tiền cô dành dụm từng đồng bạc lẻ suốt cả năm trời để chuẩn bị lợp lại mái nhà tranh xập xệ trước mùa mưa lũ. Không suy nghĩ nhiều, cô mang toàn bộ số tiền đó đóng ngay vào quầy thu viện phí. Nhân viên y tế ngạc nhiên hỏi về mối quan hệ, cô chỉ nhẹ nhàng đáp: “Tôi làm quét dọn ở đây, thấy đứa nhỏ nằm một mình nên không đành lòng.” Đồng nghiệp xung quanh xúm lại khuyên cô đừng dại rước gánh nặng vào người. Nhưng khi nhìn qua ô cửa kính, thấy thân hình bé tẹo đang nằm dưới ống thở, hai bàn tay nhỏ xíu quờ quạng trong không trung như cố bám lấy một chỗ dựa, cô Thu đã không thể quay lưng bước đi.
Sáng hôm sau, cô chủ động xin ứng trước hai tháng lương. Mãi sau này tôi mới biết, số tiền đó vốn được cô định sẵn để đi khám căn bệnh tim đã bắt đầu có những cơn đau thắt.
Sau gần ba tuần điều trị tích cực, tôi được xuất viện. Bố mẹ sinh ra tôi vẫn biệt măm biệt tích, địa chỉ trên tờ giấy hoàn toàn là giả. Một chiều mưa, đứa trẻ hai tuổi là tôi ôm chặt lấy chân cô Thu gọi “mẹ”. Cô đứng chết lặng giữa khoảng sân ch chới, rồi từ từ quỳ xuống ôm tôi khóc nấc lên. Đó là khoảnh khắc cô cảm nhận được rằng, giữa thế giới rộng lớn này, có một mầm sống thật sự đang cần sự che chở của cô.
Nhưng có một bí mật mà cô Thu đã giấu kín suốt hai thập kỷ: trong chiếc túi cũ năm đó còn có một tấm hình gia đình bị xé mất một góc. Cô không nỡ vứt đi, liền cất cẩn thận cùng mảnh giấy vào chiếc hộp thiếc đặt dưới đáy tủ gỗ. Cô không hề hay biết rằng, nhiều năm sau, tấm hình sứt sẹo ấy lại trở thành chiếc chìa khóa mở ra một bức tranh sự thật vô cùng nghiệt ngã.
Năm sáu tuổi, tôi bị bạn bè trong ngõ chỉ trỏ: “Thằng Nam là đứa bị bỏ rơi, được bà gom rác nhặt về.” Tôi lao vào quật nhau với bạn rồi mếu máo chạy về nhà hỏi: “Mẹ ơi, có phải con bị người ta bỏ đi không?” Chiếc thau nước trên tay mẹ rớt xuống đất vang lên tiếng động chát chúa. Mẹ quỳ xuống ôm lấy tôi, thì xầm từng lời vào tai: “Có những người sinh con ra nhưng chưa đủ bản lĩnh để đi cùng con. Lại có những người không sinh ra con nhưng nguyện dùng cả cuộc đời để yêu thương con.”
Tôi ôm lấy cổ mẹ thật chặt. Những đêm sau đó, chỉ cần mẹ trở mình nhẹ là tôi vội choàng tỉnh vì sợ hãi, lo rằng khi mở mắt ra người sẽ biến mất.
Năm mươi tuổi, tôi hiểu chuyện hơn khi chứng kiến những bữa ăn của mẹ. Có lần thức giấc vì khát nước, qua khe cửa bếp lập lòe ánh đèn dầu, tôi thấy mẹ ngồi ăn bát cơm nguội ngắt chỉ chấm với đĩa muối hạt. Những lời mẹ nói “mẹ ăn no ở trung tâm rồi” hóa ra đều là lời dối ngọt ngào. Sáng hôm sau, mẹ gắp quả trứng luộc duy nhất vào bát tôi, tôi kiên quyết gắp trả lại. Mẹ nhìn tôi nghẹn ngào rồi bẻ đôi quả trứng, dành phần lòng đỏ to hơn cho tôi.
Năm mười bốn tuổi, tôi tình cờ tìm thấy chiếc hộp thiếc dưới đáy tủ. Đọc từng dòng chữ trên mảnh giấy nhòe mực, lòng tôi tan nát khi xác nhận bản thân từng bị chính những người ruột thịt từ bỏ. Tôi bỏ chạy khỏi nhà, đạp xe suốt mấy tiếng đồng hồ quay lại dãy hành lang cũ của bệnh viện. Tôi ngồi đó, nhìn những đứa trẻ được bố mẹ bế bồng, nựng niu mà nước mắt lăn dài. Khi mẹ Thu tìm thấy tôi, mẹ lao đến ôm chầm lấy tôi. Nhưng ngay khi vừa thốt lên lời hứa sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi, gương mặt mẹ đột ngột biến sắc, tay ôm chặt lấy lồng ngực rồi khuỵu xuống nền gạch cold.
Ngồi bên giường cấp cứu nhìn mẹ mê man, tôi siết chặt bàn tay gầy guộc của mẹ và thề: “Con nhất định sẽ trở thành bác sĩ. Con sẽ không để mẹ hay bất kỳ ai phải cô đơn trong bệnh viện nữa.”
Từ đó, tôi lao vào học tập không biết mệt mỏi. Để có tiền cho tôi ôn thi vào trường chuyên và theo học đại học, mẹ đã lặng lẽ mang chiếc nhẫn cưới – kỷ vật duy nhất của người chồng quá cố – ra tiệm vàng bán đi. Mẹ đã giữ nó suốt hơn hai mươi năm, ngay cả những ngày giáp hạt đứt bữa. Khi tôi phát hiện ra khay nhẫn trong hộp kỷ vật đã trống rỗng, tôi quỳ xuống bật khóc. Mẹ nâng tôi dậy mỉm cười: “Mẹ mất một món đồ nhỏ, nhưng đổi lại mẹ có một đứa con ngoan. Mẹ lời to rồi còn gì!”
Ngày tôi nhận giấy báo trúng tuyển đại học y, mẹ mặc chiếc áo dài hoa tím cũ kỹ nhất, cầm bó hoa dại hái ngoài vườn đứng đợi tôi trước cổng trường. Cùng lúc đó, ở một đô thị sầm uất, gia đình người đã bỏ tôi năm xưa giờ đây đã trở thành những doanh nhân thành đạt. Họ sống trong căn biệt thự lộng lẫy, đi xe đắt tiền và dồn hết sự nuông chiều cho đứa con trai thứ hai tên Quốc Bảo. Họ tin rằng quá khứ nghèo khó và tội lỗi năm xưa đã vĩnh viễn bị chôn giấu.
Năm hai mươi hai tuổi, tôi được phân về thực tập đúng tại trung tâm y tế huyện nơi mình từng bị bỏ lại. Chiều hôm ấy, khoa tiếp nhận một nam bệnh nhân hơn năm mươi tuổi gặp tai nạn giao thông. Người đàn ông mặc trang phục sang trọng, đeo đồng hồ đắt tiền nhưng ánh mắt đầy hoảng loạn. Tôi tiến lại hỗ trợ chăm sóc vết thương và làm thủ tục hành chính như bao bệnh nhân khác. Trên hồ sơ bệnh án ghi rõ họ tên: Trần Văn Hùng.
Người đàn ông liên tục dán mắt vào tôi, bất ngờ hỏi dồn dập về tên tuổi, quê quán và gia đình. Tôi thản nhiên đáp tôi chỉ có một người mẹ duy nhất, trước đây từng làm lao công tại chính nơi này. Tôi không để ý rằng gương mặt ông ta lập tức cắt không còn một giọt máu.
Nửa giờ sau, một người phụ nữ quý phái vội vã lao vào phòng trực. Tôi bước đến hướng dẫn bà đường vào thăm bệnh nhân. Trong lúc tôi cúi xuống nhấc tập hồ sơ, chiếc áo blouse xắn cao vô tình để lộ một vết bớt màu nâu tròn trịa ngay sau cổ tay trái.
Bộp! Chiếc túi xách đắt tiền trên tay người phụ nữ rơi tự do xuống nền gạch. Bà đứng đơ người, đôi môi run rẩy bấu chặt vào chiếc áo, ánh mắt mở to đầy kinh hãi nhìn tôi…
“Cậu… cậu có phải tên là Trần Hoàng Nam không?” – Giọng người phụ nữ đứt quãng, nghẹn lại ở cổ họng.
Tôi ngơ ngác nhìn bà, gật đầu xác nhận: “Vâng, tôi là Nam. Mẹ có sao không ạ?”
Bà không trả lời, hai tay đưa lên che lấy miệng, nước mắt trào ra như mưa. Ông Hùng từ trên giường bệnh cố gượng dậy, giọng run run gọi tên tôi. Người phụ nữ bước tới, run rẩy nắm lấy bàn tay trái của tôi, nhìn chằm chằm vào vết bớt tròn – dấu vết không thể lẫn đi đâu được của đứa con trai đầu lòng mà hai mươi năm trước họ đã nhẫn tâm bỏ lại.
Thì ra, vết bớt ấy cùng thông tin về người mẹ làm lao công đã lập tức xâu chuỗi mọi thứ trong đầu họ. Người đàn ông giàu có và người phụ nữ sang trọng đang đứng trước mặt tôi chính là bố mẹ đẻ của tôi.
Ngay tối hôm đó, khi ca trực kết thúc, họ hẹn tôi ra góc sân bệnh viện. Ông Hùng sụt sùi kể lại biến cố năm xưa: khi ấy gia đình lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, tôi lại bị bệnh nặng nguy hiểm đến tính mạng, không còn một đồng dắt lưng. Trong phút giây bế tắc và ích kỷ, họ đã chọn cách để tôi lại, hy vọng có ai đó cứu giúp để họ rảnh tay đi làm ăn xa. Họ không ngờ rằng tôi vẫn sống, và lại lớn lên ngay tại chính nơi này.
Nước mắt của sự ân hận lăn dài trên những gương mặt tràn ngập dấu vết của sự giàu sang. Bà quỳ gối trước mặt tôi, van xin một lời tha thứ, ngỏ ý muốn bù đắp cho tôi bằng tất cả tiền tài, nhà cửa và cơ hội du học nước ngoài. Họ hứa sẽ đón tôi về để nhận lại tổ tông.
Tôi đứng lặng giữa cơn gió đêm xào xạc. Nhìn hai người đang khóc lóc van xin trước mặt, trong lòng tôi không hề có sóng gió cuộn trào hay sự hận thù rực cháy như tôi từng tưởng tượng thời niên thiếu. Cảm giác duy nhất còn lại là sự trống rỗng.
Tôi nhìn sâu vào mắt họ, bình tĩnh nói: “Hai mươi năm trước, khi cháu nằm co quắp trên chiếc ghế nhựa cold ngắt, giọt nước mắt của hai người không giữ cháu lại. Người đã nhặt cháu lên, dùng những đồng tiền chắt chiu lợp mái nhà để đóng viện phí cho cháu, dùng cả cuộc đời và sức khỏe để nuôi cháu ăn học… chính là mẹ Thu của cháu.”
Tôi xin phép rút tay lại rồi tiếp tục: “Cháu không hận hai bác. Bởi vì nhờ có sự từ bỏ của hai bác năm đó, cháu mới có được một người mẹ vĩ đại nhất trên đời. Nhưng giữa chúng ta, tình ruột thịt đã đứt đoạn từ đêm cuối tháng chạp ấy rồi. Cháu đã có một gia đình, và cháu chỉ có một người mẹ duy nhất.”
Nói xong, tôi cúi đầu chào rồi quay lưng bước đi, mặc cho tiếng khóc nghẹn ngào của họ vang lên phía sau.
Tôi đi bộ trở về căn nhà nhỏ ven đồi. Dưới ánh đèn vàng ấm áp, mẹ Thu đang ngồi khâu lại chiếc cúc áo sơ mi cho tôi. Nhìn bóng dáng hao gầy, mái tóc đã điểm bạc và đôi bàn tay chằng chịt vết chai sần vì tần tảo của mẹ, tôi thấy sống mũi mình cay xè.
Tôi bước lại gần, ngồi xuống nền nhà rồi gục đầu vào lòng mẹ như đứa trẻ hai tuổi năm nào. Mẹ vuốt tóc tôi, dịu dàng hỏi: “Hôm nay đi làm mệt lắm hả con?”
Tôi ngước lên, nắm lấy bàn tay gầy guộc của mẹ và khẽ cười: “Con không mệt. Con chỉ muốn về nhà với mẹ thôi.”
Tôi chọn không kể cho mẹ nghe về cuộc gặp gỡ chiều nay. Tấm ảnh rách và mảnh giấy trong chiếc hộp thiếc cất sâu dưới đáy tủ sẽ mãi mãi thuộc về quá khứ. Bố mẹ ruột đã cho tôi hình hài, nhưng mẹ Thu mới là người cho tôi cuộc sống và dạy tôi biết thế nào là yêu thương chân chính. Với tôi, tình phụ tử hay mẫu tử chưa bao giờ nằm ở giọt máu chảy trong người, mà nó nằm ở những giọt mồ hôi, giọt nước mắt và cả một đời hy sinh thầm lặng.