
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Người mẹ tưởng rằng sẽ bất lực nhìn con gái chờ đợi 2 năm mổ tim ở Mỹ, nhưng điều kì diệu đã xảy ra, chỉ 3 ngày ở Hà Nội đã cứu sống con”…
Tôi quỵ xuống trên nền gạch hoa buốt giá ở sảnh Bệnh viện Tim Hà Nội, lòng bàn tay siết chặt đến nát vụn tờ giấy báo chi phí, giọt nước mắt nóng hổi òa ra không sao kìm giữ được. Lồng ngực tôi phập phồng, nhịp đập cuồng loạn như chực vỡ tung. Toàn bộ gói phẫu thuật cấp cứu chỉ rơi vào khoảng 750 triệu đồng. Chiều ba ngày trước, đứa con gái bé nhỏ của tôi vẫn còn nằm đối diện với ranh giới sinh tử trên bàn mổ. Giờ đây, tờ hóa đơn mỏng dính này như một lời chứng thực kỳ diệu: tôi đã đem mạng sống của con đặt cược vào một quyết định táo bạo nhất đời mình – tin tưởng vào nền y học Việt Nam.
Dưới ánh đèn vàng lung linh của hành lang bệnh viện, không khí phảng phất mùi dung dịch sát khuẩn đặc trưng. Tôi bệt xuống đất, tựa lưng vào mảng tường lạnh, khóc nức nở như một đứa trẻ tan vỡ. Những ký ức u tối suốt bao tháng ngày ở nước Mỹ, những đêm thức trắng chôn chân bên giường bệnh ngắm nhìn gương mặt xanh xao của con, nỗi dằn dằn dỗi tự trách mình là một người mẹ bất lực… tất cả cuồn cuộn dội về. Làm sao tôi có thể ngờ rằng, một chuyến đi tưởng chừng chỉ là kỳ nghỉ ngắn hạn trở về Hà Nội lại hóa thành bước ngoặt cải số cho đứa con duy nhất của tôi?
Tôi tên là Bảo Quyên, năm nay 36 tuổi, từng có 15 năm gắn bó với nghề tiếp viên hàng không cho một hãng quốc tế lớn ở Mỹ. Sinh ra và lớn lên tại thành phố New York, dù luôn hướng về nguồn cội, tôi vẫn mang tư tưởng cố hữu rằng dịch vụ và y tế phương Tây luôn ở vị thế số một thế giới. Tôi đơn thân nuôi con từ khi bé Hải An mới lên hai. Dù có mẹ đẻ hỗ trợ, công việc bận rộn với hàng trăm chuyến bay dài qua hơn 50 quốc gia vẫn vắt kiệt sức lực của tôi. Mỗi lần hạ cánh xuống phi trường JFK, tôi lại vội vã lao về nhà chỉ để ôm con vào lòng.
Bé Hải An năm nay tròn tám tuổi, sở hữu làn da mịn màng, đôi mắt đen tròn xoe tinh anh cùng nụ cười rạng rỡ như nắng mai. Tôi dồn toàn bộ tâm huyết và năng lượng làm việc để lo cho con học trường quốc tế với mức phí 40.000 USD mỗi năm. Dù vô cùng tốn kém, tôi vẫn chấp nhận vì đinh ninh rằng môi trường tại Mỹ sẽ mang lại cho con sự phát triển hoàn hảo nhất.
Thế nhưng, bức tranh hồng ấy nát vụn chỉ sau một đợt khám bệnh.
Hải An bắt đầu có biểu hiện suy nhược, chỉ di chuyển nhẹ nhàng vài bước đã thở dốc, sắc mặt tái nhợt. Ban đầu tôi chỉ nghĩ con bị thiếu dinh dưỡng nên tích cực bổ sung vi chất. Cho đến một buổi chiều, tiếng điện thoại từ nhà trường vang lên đầy hoảng hốt: “Chị Quyên ơi, bé Hải An ngất xỉu ngay trên sân trường!” Tim tôi thắt lại. Tôi lập tức xin hủy toàn bộ lịch trình bay để đưa con đi kiểm tra. Một tuần sau, kết quả chẩn đoán từ chuyên khoa khiến tôi suy sụp hoàn toàn: Tứ chứng Fallot – một dạng dị tật tim bẩm sinh cực kỳ nguy hiểm. Đứa trẻ cần được can thiệp phẫu thuật gấp.
Tuy nhiên, vị bác sĩ trưởng khoa tại New York thở dài bất lực: “Thời gian chờ đợi theo thứ tự ưu tiên hiện tại phải mất từ 18 đến 24 tháng.” Hai năm ư? Đứa trẻ mới tám tuổi đầu làm sao có thể gánh vác rủi ro khi trái tim nhỏ bé có thể ngừng đập bất kỳ lúc nào? Tôi gục ngã, khóc cạn nước mắt trong căn hộ rợp bóng chiều ở Queens. Tôi cuống cuồng liên hệ sang các cơ sở y tế tại Canada, Anh, Đức nhưng đáp lại chỉ là mức chi phí lên đến hàng trăm nghìn đô la cùng thời gian chờ đợi dài đằng đẵng. Bảo hiểm từ chối chi trả toàn bộ. Đêm đêm ôm con vào lòng, nghe từng nhịp đập ngắt ngứ yếu ớt của con, tim tôi đau như dao cắt.
“Mẹ ơi, con có mau khỏe lại để đi chơi không?” – Hải An thỏ thẻ hỏi. Tôi gật đầu dối lừa, gượng cười trong cơn đau đớn tột cùng của sự vô vọng….
Đúng lúc bế tắc nhất, một cơ hội xuất hiện khi trường học của Hải An mở chương trình giao lưu văn hóa ngắn hạn tại Hà Nội. Đứa nhỏ nắm lấy tay tôi, ánh mắt ánh lên khao khát: “Mẹ ơi, cho con về Việt Nam đi, con thèm ăn cơm tấm, phở nóng với bánh cuốn lắm…” Thấy con thiết tha, dù cực kỳ lo lắng cho tình trạng sức khỏe của con, tôi vẫn gật đầu đồng ý sau khi nhận được sự chấp thuận với các điều kiện theo dõi nghiêm ngặt từ bác sĩ riêng.
Trên chuyến bay đường dài trở về quê hương, người ngồi ở ghế bên cạnh tôi là một vị khách nam lớn tuổi, ánh mắt hiền từ. Nhìn vào chiếc thẻ công tác của ông, tôi nhận ra dòng chữ: Giáo sư Phạm Quốc Hùng – Chuyên gia Phẫu thuật Tim mạch Nhi Bệnh viện Tim Hà Nội. Như vơ được cọc giữa dòng nước xiết, tôi đánh táo tợn bắt chuyện và trải lòng về căn bệnh của Hải An. Vị giáo sư trầm ngâm lắng nghe, ánh mắt thoáng nét nghiêm nghị rồi nhẹ nhàng lên tiếng: “Trường hợp dị tật này, các bệnh viện tại Việt Nam hoàn toàn làm chủ được kỹ thuật. Nếu đưa vào quy trình cấp cứu, chúng tôi có thể xếp lịch can thiệp chỉ trong vòng vài ngày đến hai tuần.”
Tôi sững sờ, nửa tin nửa ngờ. Trong tiềm thức của tôi trước đó, y tế trong nước vẫn còn nhiều hạn chế. Nhưng ông kiên nhẫn chia sẻ thêm rằng chi phí trọn gói chỉ khoảng 500 đến 750 triệu đồng với tỷ lệ thành công vượt mốc 98%. Những con số ấy khiến tôi bàng hoàng đến mức ngây người.
Về đến Hà Nội, Hải An tỏ ra vô cùng thích thú. Môi trường học tập mới thân thiện, những bữa ăn học đường đậm chất quê hương khiến con ăn ngon miệng và cười nói hăng hái hơn hẳn. Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày tay. Chỉ vài ngày sau, trong giờ ra chơi, con lại lên cơn thiếu oxy nặng, mặt mày xám xịt và ngất đi. Nhận tin báo từ bộ phận y tế nhà trường, lòng tôi lạnh ngắt, nỗi sợ hãi bao trùm lấy tâm trí. Tình trạng của con đã diễn biến quá nhanh, không thể trì hoãn thêm được nữa.
Tối hôm đó, trong căn phòng thuê ở quận Cầu Giấy, bàn tay tôi run rẩy bấm số điện thoại trên tấm danh thiếp của Giáo sư Hùng. Ngay lập tức, ông yêu cầu tôi đưa con đến viện vào sáng sớm hôm sau.
Bước chân vào Bệnh viện Tim Hà Nội, tôi không hề cảm thấy sự lạnh lẽo hay xa cách. Đội ngũ y bác sĩ, điều dưỡng tiếp đón cực kỳ chu đáo, ân cần gọi Hải An là “con gái nhỏ”. Các khâu xét nghiệm, chụp chiếu phức tạp được hoàn thành nhanh chóng ngay trong ngày. Cầm bản kết quả trên tay, Giáo sư Hùng nhìn tôi đầy kiên định: “Biến chứng đang gia tăng. Chúng tôi sẽ xếp lịch phẫu thuật cho cháu trong vòng 3 ngày tới.”
Chỉ vỏn vẹn ba ngày!
Tôi đứng chết lặng. Ở New York – nơi tôi từng coi là đỉnh cao y học – tôi phải mòn mỏi chờ đợi hai năm; còn tại đây, mọi thứ được quyết định trong ba ngày. Tôi liên tục hỏi lại vì không tin vào tai mình. Vị giáo sư mỉm cười giải thích rằng nhờ năng lực chuyên môn cao của đội ngũ y bác sĩ Việt Nam, cùng quy trình phân loại và tiếp nhận bệnh nhân tối ưu, các ca bệnh nặng luôn được ưu tiên xử lý tức thì mà không bị vướng mắc bởi những rào cản hành chính rườm rà.
Tối hôm đó, tôi hạ quyết tâm: “Tôi gửi gắm tính mạng con gái cho các bác sĩ!”
Ca phẫu thuật kéo dài hơn năm tiếng đồng hồ trôi qua trong sự căng thẳng đến nghẹt thở. Khi cánh cửa phòng mổ bật mở và Giáo sư Hùng bước ra nở nụ cười kiên định: “Ca mổ thành công rực rỡ, trái tim cháu đã hoạt động bình thường”, tôi như người từ cõi chết trở về.
Và giờ đây, ôm tờ hóa đơn thanh toán 750 triệu đồng trên tay – một con số quá khiêm tốn so với những gì tôi từng tưởng tượng ở bờ bên kia đại dương, giọt nước mắt lăn dài trên má tôi không còn là nước mắt của sự tuyệt vọng. Đó là giọt nước mắt của vỡ òa hạnh phúc, của niềm tự hào và sự biết ơn sâu sắc đối với những “bàn tay vàng” của y học Việt Nam – những con người đã tái sinh cuộc đời cho đứa con gái nhỏ của tôi.