
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Ba năm bắt gặp ba đứa trẻ s/ơ s/inh dưới gốc cây đa ở đầu làng, ông không bỏ mặc lũ trẻ, mà nhận nuôi ba đứa trẻ. 13 Năm Sau Nhận Được Điều này…..
Ánh đèn pin nhập nhòe trên tay tôi rung lên bẩy hẩy. Tôi cúi sấp người, bàn tay run rẩy gạt từng lớp lá khô ướt sũng mưa phùn đêm muộn. Tim tôi thắt lại, cảm giác như có một bàn tay băng giá bóp nghẹt lồng ngực. Bên dưới hốc cây cổ thụ đầu làng, một đứa trẻ sơ sinh nằm quấn trong tấm chăn cũ rách, làn da đỏ hắt lên vì lạnh, hơi thở phập phồng mong manh như vệt khói chiều. Đôi mắt tôi dại đi vì bàng hoàng. Mùi bùn đất nồng nặc hòa lẫn gió lạnh đầu mùa quất vào mặt rát rúa. Ai mà nhẫn tâm đến thế? Ai có thể nỡ bỏ rơi một sinh linh bé bỏng giữa đêm đông tăm tối thế này?
Tôi tên Vũ, năm ấy tròn 40 tuổi, làm nghề gác đêm cho một kho bãi ven đê. Cuộc đời tôi trước đó chỉ là một chuỗi trầm lặng và đổ vỡ. Người vợ từng gắn bó suốt thời tuổi trẻ đã lặng lẽ bỏ đi vào một ngày mưa rào, mang theo toàn bộ số tiền tích góp cùng hy vọng về một gia đình êm ấm. Cô ấy ra đi không một lời từ biệt, chỉ để lại sự trống trải đến lạnh người trong căn nhà cấp bốn sập xệ. Từ đó, tôi sống như một cái bóng cô độc, ngày làm đêm gác, chẳng buồn trò chuyện hay thân thiết với ai.
Thế nhưng, số phận lại xô đẩy tôi vào một con đường không ai ngờ tới. Lần đầu tiên là ba năm trước, cũng vào một đêm mưa bão, tôi đi trực về thì nghe tiếng khóc ngặt ngẽo phát ra từ hốc cây đa cổ thụ đầu làng. Tôi lao đến và tìm thấy một bé gái sơ sinh tím tái vì lạnh. Tôi đưa bé vào viện, gom góp những đồng tiền cuối cùng để cứu sống con và làm thủ tục nhận nuôi, đặt tên bé là An.
Một năm sau, lại một đêm chạng vạng tối, kịch bản nghiệt dã ấy lặp lại ngay tại gốc đa đó. Một bé trai quấn trong chiếc áo len cũ kỹ bị ai đó bỏ lại. Tôi đứng chôn chân giữa trời mưa, lòng giằng xé dữ dội. Một mình tôi nuôi một đứa trẻ đã kiệt hùe, giờ thêm đứa nữa thì sống sao nổi? Nhưng ánh mắt ngơ ngác của đứa trẻ đã níu chân tôi lại. Tôi bế con về, đặt tên là Bình.
Và đêm nay, tròn 3 năm kể từ ngày tìm thấy bé An, khi đi ngang qua gốc đa làng quen thuộc, tiếng khóc yếu ớt ấy lại vang lên một lần nữa. Tôi bộc phát lao vào hốc cây, cởi phăng chiếc áo bông sờn cũ ôm trọn bé gái thứ ba vào lòng. Hơi ấm từ ngực tôi truyền sang đứa nhỏ, hòa cùng tiếng đập dồn dập của một trái tim đang run rẩy. Ba năm, ba đứa trẻ vô danh bị bỏ rơi cùng một vị trí. Đó không còn là sự trùng hợp, đó là món nợ duyên kiếp mà trời đất quẳng vào đời tôi.
Tôi điên cuồng ôm đứa trẻ lao vội đến bệnh viện huyện. Dưới ánh đèn huỳnh quang trắng bệch của phòng cấp cứu, tôi ngồi bất động trên hàng ghế nhựa, tay bám chặt đến mức móng tay găm sâu vào thịt. Tiếng máy đo nhịp tim bíp bíp đều đặn đâm thấu tâm trí. Sau gần hai tiếng đồng hồ nín thở, bác sĩ bước ra, thở dài thồ lộ: “Đứa trẻ bị hạ thân nhiệt nguy hiểm, cơ thể suy kiệt nặng. May mà anh đưa đến kịp. Anh là bố đứa bé à?”
Tôi ngập ngừng, cổ họng đắng ngắt. Tôi chỉ là gã gác đêm nghèo rớt mùng mồng, nuôi hai đứa nhỏ ở nhà đã trầy da tróc vảy. Nhưng nhìn qua khe cửa kính, nhìn sinh linh nhỏ bé đang thở oxy, tôi nuốt nghẹn vào trong rồi cất lời kiên định: “Vâng, tôi là bố nó. Bác sĩ cứ cứu cháu, tôi sẽ lo liệu tất cả!”
Bác sĩ nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngại rồi cảnh báo về gánh nặng tài chính lẫn sự kiệt sức khi một tay nuôi ba đứa trẻ sơ sinh. Tôi chỉ biết gật đầu trong nước mắt. Căn nhà tranh vách đất thiếu trước hụt sau, lương tháng vài đồng bạc lẻ… Tôi biết phía trước là vực thẫm, nhưng tôi không thể quay lưng….
Những năm tháng sau đó là một hành trình gian khổ ngoài sức tưởng tượng. Một mình người đàn ông gà trống nuôi ba đứa con nhỏ, tiền sữa, tiền tã, tiền thuốc men mỗi khi chúng ốm đau dồn dập ập đến. Ban ngày tôi đi làm phụ hồ, gánh gạch, bốc vác ngoài chợ; ban đêm lại tiếp tục ca gác kho mệt nhoài. Có những đêm ba đứa thay nhau sốt cao, tôi một tay bế con, một tay pha sữa, mắt nhắm mắt mở mà nước mắt tủi thân cứ trào ra. Chiếc xe đạp cũ kỹ là tài sản quý giá nhất trong nhà cũng phải bán đi để lấy tiền mua thuốc cho con. Bữa cơm của tôi suốt nhiều năm liền chỉ có rau luộc chấm tương, nhường từng thìa sữa, miếng thịt cho các con lớn khôn.
Xóm giềng ban đầu còn dị nghị, người ta bảo tôi khùng, tự chuốc lấy nợ đời. Nhưng thấy tôi miệt mài làm lụng, gầy giuộc đi từng ngày để chăm lo cho ba đứa trẻ sạch sẽ, ngoan ngoãn, họ chuyển từ mỉa mai sang thương hại rồi khâm phục. Ba đứa trẻ An, Bình, và bé út Chi lớn lên trong tình thương bao la của người bố không cùng dòng máu. Chúng hiểu sự hy sinh của bố nên rất ngoan, bảo nhau học hành và giúp đỡ việc nhà từ khi còn rất nhỏ.
Thời gian thoắt cái đã 13 năm trôi qua. Người đàn ông 40 tuổi năm nào giờ đã 53 tuổi, tóc đã điểm bạc, lưng đã hơi còng và bàn tay chằng chịt những vết sẹo lao động.
Vào một buổi chiều thu gợn nắng, khi tôi vừa đi làm thuê về đến đầu ngõ, căn nhà nhỏ vốn êm đềm hôm nay lại đông đúc bất thường. Nhiều chiếc xe ô tô đắt tiền đậu kín con hẻm nhỏ. Trong sân, ba đứa trẻ đang đứng ngơ ngác bên cạnh một người phụ nữ sang trọng nhưng gương mặt khắc khổ, nước mắt ngắn dài.
Thấy tôi bước vào, người phụ nữ ấy khựng lại rồi bất ngờ quỳ gối xuống nền đất bụi bặm trước sự kinh ngạc của tôi. Chị khóc nghẹn ngào, từng lời thốt ra như gạt đi lớp mây mù suốt 13 năm qua. Chị chính là mẹ ruột của cả ba đứa trẻ.
Năm xưa, chị gặp biến cố gia đình cực kỳ bi kịch, bị lừa gạt rơi vào đường cùng, không đủ khả năng nuôi con và bị đe dọa tính mạng. Vì muốn giữ lại mạng sống cho các con, chị đành ngậm ngùi mang từng đứa trẻ mới sinh đặt ở gốc đa đầu làng – nơi chị biết có trạm gác đêm và những người dân quê hiền lành hay qua lại, cầu mong một phép màu. Sau đó chị phải bỏ xứ đi làm ăn xa xứ. Suốt 13 năm qua, chị nỗ lực làm việc, gầy dựng lại cơ nghiệp và chưa từng một ngày thôi tìm kiếm thông tin về người đã cưu mang các con mình.
“Em biết ơn anh suốt đời! Nếu không có trái tim nhân hậu của anh đêm ấy, các con em đã không còn trên đời này nữa…” – Người mẹ chắp tay bái lạy trong giọt nước mắt sám hối và biết ơn.
Chị ngỏ ý muốn đền đáp công ơn trời biển của tôi bằng một căn nhà khang trang tại thành phố, cùng một khoản tiền rất lớn để tôi dưỡng già, đồng thời xin được đón ba con về chăm sóc.
Tôi đứng chết lặng giữa khoảng sân nhỏ. Nhìn ba đứa trẻ – những sinh linh tôi đã rút từng giọt mồ hôi, máu và nước mắt để nuôi lớn suốt 13 năm – lòng tôi thắt lại một nỗi đau xé ruột. Nhưng rồi, tôi nhìn thấy ánh mắt khao khát tình mẹ của các con, tôi hiểu mình không thể ích kỷ.
Tôi nhẹ nhàng tiến lại, đỡ người phụ nữ đứng dậy rồi xoa đầu từng đứa trẻ. Tôi từ chối căn nhà và khoản tiền đền đáp, chỉ nắm lấy tay người mẹ và dặn dò trong nước mắt: “Tôi nuôi chúng không phải để chờ ngày nhận thù lao. Chỉ cần cô yêu thương và bù đắp cho các cháu những tháng ngày đã qua, đó là món quà lớn nhất đối với cuộc đời tôi rồi.”
Khi ba đứa trẻ nhào vào lòng tôi khóc nức nở, ôm chặt lấy người bố đã nuôi nấng chúng từ hốc cây đa ngày nào, câu nói của bé An vang lên khiến ai có mặt cũng vỡ òa: “Bố ơi, dù đi đâu chúng con vẫn là con của bố!”
Cuộc đời có thể đã từng nhẫn tâm cướp đi của tôi một mái ấm, nhưng lại bù đắp cho tôi một trái tim biết yêu thương vô điều kiện. Nhìn các con trưởng thành và hạnh phúc, tôi biết rằng, quyết định dưới gốc đa đêm đông năm ấy là điều đúng đắn nhất mà mình từng làm trong đời.