
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Cứu một người đàn ông đang có nhiều vết thương ở cái rãnh bên đường trong đêm mưa. Ba mươi ngày sau một chuyện lạ đã xảy ra khiến cô b//àng h//oàng…
Sáng hôm ấy, con đường đất nhỏ dẫn vào hiên nhà tôi chật kín những chiếc xe sang trọng màu đen bóng loáng. Từng người đàn ông diện vest chỉnh tề bước xuống, xếp thành hai hàng ngay ngắn rồi đồng loạt cúi đầu kính cẩn hướng về người đàn ông đang đứng giữa khoảng sân gạch. Nhân vật ấy, suốt trọn một tháng ròng vừa qua, vẫn ngồi lặng lẽ nhặt từng cọng rau muống và ăn những bữa cơm đạm bạc trong căn bếp dột nát của tôi. Họ gọi anh là tổng giám đốc. Đôi chân tôi bỗng mềm nhũn, chiếc chổi tre trong tay tuột khỏi lòng bàn tay, rơi bịp xuống nền đất khô.
Ba mươi ngày trước, cuộc đời tôi chỉ thu gọn trong hai từ cô độc. Tôi là Liên, tròn ba mươi tuổi, mang theo đôi chân không đều từ ngày lọt lòng. Những năm tháng thơ ấu, lũ trẻ trong vùng thường gọi tôi bằng cái tên miệt thị là Liên què. Tôi nghe rõ từng lời cay đắng ấy nhưng chỉ biết cúi đầu, vờ như bản thân điếc đặc. Mẹ tôi đã qua đời cách đây bốn năm, để lại cho tôi độc nhất đôi bông tai nhỏ bằng vàng non — tài sản quý giá nhất mà bà có. Trước khi nhắm mắt, mẹ dặn dò: khi nào gặp được người thật lòng thương yêu con, hãy đeo nó vào ngày chính thức về nhà chồng.
Đêm cuối cùng của tháng bảy, cơn mưa tầm tã trút xuống trắng xóa cả lối đi. Tôi dò dẫm bước từng bước chân khập khiễng trên con đường đất lầy lội, tay cầm chiếc đèn pin soi rõ mặt đường vì sợ trượt ngã sau buổi đi giao đồ cho khách về muộn. Khi đi ngang qua bãi đất trống cuối xóm, một âm thanh rên rỉ rất khẽ lọt vào tai tôi. Dừng lại lắng nghe, tôi rọi ánh đèn xuống mương nước cạnh bờ cỏ. Một người đàn ông đang nằm sõng soài trong bùn lầy, chiếc áo sơ mi rách bươm ở bả vai, vết máu trên trán hòa lẫn với nước mưa chảy dọc xuống cằm. Sự hoảng sợ khiến tôi lùi lại mấy bước, định bụng sẽ bỏ chạy về làng kêu cứu. Nhưng đúng khoảnh khắc đó, anh từ từ mở hé đôi mắt, thều thào qua làn hơi yếu ớt: “Xin cô… đừng bỏ mặc tôi ở đây.” Ánh mắt ấy chạm thẳng vào tâm can tôi. Nó không mang sự ngạo mạn của kẻ giàu sang, càng không phải ánh mắt của những kẻ sau này mang theo cả một đoàn xe lớn đến cúi đầu. Đó chỉ là ánh mắt của một con người đang tuyệt vọng vì sợ cái chết cận kề.
Tôi hộc tốc chạy đi gọi bác Tư — người đàn ông lớn tuổi sống đầu xóm. Hai chúng tôi chật vật dìu anh lên chiếc xe ba bánh, chở thẳng đến trạm xá xã. Lúc nhấc người anh lên, chân tôi vô tình vấp phải một vật cứng nằm sâu trong bụi cỏ ven đường: một thiết bị nhỏ bằng nhựa đen, bám đầy bùn đất. Nghĩ là đồ cá nhân của anh làm rơi, tôi tiện tay nhặt lấy rồi nhét vào túi áo khoác. Nào ngờ, món đồ nhỏ bé ấy lại là ngòi nổ khiến nhiều kẻ sẵn sàng lật tung cả vùng quê này lên để tìm kiếm.
Anh khai tên là Hoàng Nam, nhưng ngoài cái tên đó ra, trí nhớ của anh trống rỗng hoàn toàn. Không ví tiền, không giấy tờ tùy thân, chẳng có lấy một chiếc điện thoại di động. Hai ngày sau, trạm xá không thể tiếp tục giữ bệnh nhân lại vì điều kiện y tế hạn hẹp. Nam ngồi thẫn thờ trên mép giường bệnh, tay ôm chặt vùng sườn bị thương nặng, giọng trầm buồn: “Bây giờ tôi chẳng biết phải đi về đâu.” Trong túi xách của tôi lúc đó chưa nổi một triệu đồng, thùng gạo ở nhà cũng chỉ còn vỏn vẹn nửa bao. Tôi là một phụ nữ sống đơn độc, lý trí liên tục gào thét bảo tôi hãy tránh xa rắc rối. Thế nhưng, văng vẳng bên tai tôi là lời dặn dò của người quá cố: có những lúc chìa tay giúp đỡ người khác không phải vì mình giàu có dư dả, mà bởi vì nếu mình quay lưng đi, họ sẽ chẳng còn một ai trên cõi đời này nữa. Tôi hít một hơi sâu rồi nhìn thẳng vào anh: “Anh cứ về nhà tôi tá túc vài hôm.” Anh ngước nhìn tôi đầy ái ngại: “Cô không sợ tôi là người xấu sao?” Tôi đáp gọn lỏn: “Có chứ. Nhưng nếu anh có ý đồ xấu thật thì ít nhất cũng phải chờ đến lúc tự đứng vững trên đôi chân của mình đã.” Lần đầu tiên sau bao nhiêu ngày u ám, tôi thấy khóe môi anh nhếch lên nụ cười. Tôi nào có ngờ rằng “vài hôm” ấy lại kéo dài ròng rã suốt một tháng trời….
Đêm đầu tiên, tôi nhường chiếc giường duy nhất của mẹ cho Nam nghỉ ngơi, còn mình kéo chiếc ghế gỗ chặn ngang cánh cửa buồng bên cạnh. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm nhóm bếp nấu một nồi cháo nóng. Nhìn dáng đi khập khiễng của tôi khi bưng bát cháo lên bàn, ánh mắt Nam chùng xuống: “Chân cô… có đau lắm không?” Tôi sững người lại giữa không gian tĩnh lặng. Cả cuộc đời dài đằng đẵng này, thiên hạ chỉ tò mò chỉ trỏ hỏi tại sao chân tôi lại thế, chứ chưa từng có một ai thèm hỏi xem tôi có cảm thấy đau đớn hay không. Tôi nghẹn ngào đáp rằng mình đã quen rồi. Anh gật đầu trầm ngâm rồi lặng lẽ ăn hết bát cháo. Chỉ một câu nói vô tình ấy thôi mà tôi khắc ghi mãi trong tâm trí.
Đến ngày thứ sáu, vết thương cũ của Nam bất ngờ chuyển biến xấu, cơ thể anh sốt cao mê sảng. Số tiền tiết kiệm ít ỏi của tôi đã cạn sạch đáy. Nam khăng khăng đòi ngừng việc mua thuốc, nhưng tôi hiểu anh chỉ đang cố tỏ ra mạnh mẽ vì sợ tôi khánh kiệt. Đêm hôm đó, tôi lặng lẽ mở chiếc hộp gỗ cũ kỹ giấu dưới đáy tủ của mẹ. Sáng hôm sau, tôi một mình mang đôi bông tai vàng non ra tiệm vàng ngoài thị trấn để bán. Đôi bàn tay tôi run rẩy khi cầm xấp tiền mặt trên tay, cảm giác giống như vừa cắt đứt một phần ruột thịt gắn bó với người mẹ quá cố.
Tối ngày thứ bảy, khi tôi đang dọn mâm cơm tối lên bàn, một chiếc xe ô tô lạ mặt lướt qua cổng rất chậm. Nam lập tức bật dậy, sắc mặt tái mét không còn giọt máu. Anh dặn dồn dập: “Hương, nếu có bất kỳ kẻ lạ mặt nào hỏi thăm về tôi, tuyệt đối đừng nhận là tôi đang ở đây.” Anh nhớ lại chi tiết chiếc xe ô tô của mình bị phá hoại hệ thống phanh trên đèo vắng, rồi văng vẳng tiếng người lạnh lùng vang lên ngay sát bên tai lúc đó: “Phải kiểm tra cho thật kỹ xem hắn đã chết hẳn chưa.” Sống lưng tôi lạnh toát. Bọn chúng không chỉ kiểm tra chiếc xe, mà muốn xác nhận xem anh còn thở hay không. Sáng hôm sau ra chợ làng, một gã đàn ông lạ mặt tiến đến hàng rau của tôi, vờ hỏi mua đồ rồi dò hỏi bóng gió xem tôi có vô tình thấy người bị nạn nào trốn trong xóm không. Hắn ta ném mớ tiền lẻ lên mặt bàn rồi bước thẳng lên chiếc xe đen đậu từ trước ở đầu đường. Tôi hoảng hốt thu dọn hàng quán, chạy thục mạng về nhà.
Những ngày tiếp theo, sức khỏe của Nam hồi phục nhanh chóng. Rồi cuối cùng anh cũng phát hiện ra việc tôi đã đem bán đôi bông tai duy nhất của mẹ để chữa bệnh cho mình. Đôi mắt người đàn ông ấy đỏ hoe, nghẹn ngào không nói nên lời. Tôi dịu dàng an ủi: “Kỷ vật suy cho cùng cũng chỉ là vật vô tri của người đã khuất, còn anh lúc đó mới là một sinh mạng đang cần được cứu sống.” Đêm hôm ấy, Nam ngồi thẫn thờ ngoài hiên nhà đến tận quá nửa đêm. Kể từ ngày đó, thái độ và ánh mắt anh nhìn tôi thay đổi hoàn toàn. Thấy tôi xách từng thùng nước nặng, anh lập tức ra tay giành lấy; thấy bậc thềm nhà trơn trượt sau cơn mưa, anh luôn đưa bàn tay ấm áp ra đỡ lấy tôi. Và chính tôi — một người con gái từ lâu vẫn tự nhủ lòng mình không bao giờ được phép hy vọng quá nhiều — lại bắt đầu mong ngóng những buổi chiều bình yên có anh ngồi chờ sẵn bên mâm cơm nghèo.
Đêm thứ mười ba, khi dọn dẹp lại góc bếp, tôi bất chợt nhớ đến thiết bị nhựa màu đen từng nhặt được bên vệ đường hôm nào. Dùng chiếc khăn ẩm lau sạch lớp bùn đất đóng cục, tôi nhận ra đó là một chiếc thẻ nhớ thu nhỏ, mặt sau khắc một ký hiệu hình học rất lạ mắt. Sáng hôm sau, tôi đặt nó ngay ngắn lên mặt bàn trước mặt Nam. Nhìn thấy vật đó, sắc mặt Nam biến đổi hoàn toàn, đôi bàn tay gầy gò run lên bần bật. Anh nhìn thẳng vào tôi hỏi dồn: “Ngoài cô ra, còn ai nhìn thấy thứ này nữa không?” Tôi lắc đầu quả quyết. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy trong ánh mắt của người đàn ông ấy không chỉ có sự lo âu, mà ẩn chứa cả một nỗi sợ hãi tột cùng. Tôi cẩn thận gói ghém nó lại rồi giấu kín dưới đáy hũ gạo góc nhà.
Thế nhưng, mọi chuyện không thể ém nhẹm mãi. Chiều hôm đó, hai gã đàn ông cao lớn xuất hiện trước hiên nhà tôi, chìa một bức ảnh chụp Nam ra tra hỏi. Tôi đứng chắn ngang cửa ra vào, dù đôi chân bắt đầu nhức nhối buốt giá nhưng vẫn kiên quyết không lùi bước. Khi bọn chúng vừa rời đi, Nam kiên quyết tuyên bố ngày mai anh sẽ rời khỏi đây để tránh vạ lây cho tôi. Tôi lặng lẽ nấu một bữa cơm thật thịnh soạn làm bữa tiễn biệt, rồi nhét vội ba trăm nghìn đồng cuối cùng vào túi áo anh. Nam vừa bước ra khỏi cổng được chừng chục mét bỗng quay đầu lại nhìn tôi, giọng kiên định: “Đợi tôi trở lại.”
Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau, tôi nghe tiếng chân chạy thình thịch ngoài sân. Nam hộc tốc lao vào nhà, người bám đầy bùn đất, thở dốc thông báo rằng đầu làng đã bị chặn đường thoát. Ngay lập tức, hai chiếc xe ô tô màu đen tiến sát vào sân nhà. Tiếng một gã đàn ông cất lên lạnh lùng từ bên ngoài: “Chị Hương ơi, chúng tôi biết rõ tổng giám đốc Nam đang ẩn trốn ở trong đó, đừng cố che giấu nữa!” Tôi hoảng loạn chạy xuống góc bếp định lấy chiếc thẻ nhớ trong hũ gạo, rồi tìm đường cửa sau trốn thoát, nhưng cánh cửa vừa hé mở thì đã thấy vài bóng đen đứng chờ sẵn. Nam bước nhanh ra phía trước, dứt khoát che chở cho tôi. Gã đàn ông bước xuống từ xe lớn nhếch mép cười nhạt đầy hiểm độc: “Anh Nam à, đáng lẽ ra anh không nên sống sót qua đêm hôm ấy. Người muốn anh phải biến mất vĩnh viễn hóa ra lại chính là kẻ mà anh tin tưởng nhất trên đời này.”