
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Ngày mở phiên tòa, người luật sư đã quên sạch mọi kỹ năng mình có, chỉ vì bắt gặp người bị cáo hôm nay chính là…
Tôi mang tên Quỳnh, năm nay tròn ba mươi hai tuổi, hiện đang là một luật sư hình sự có tiếng. Trải qua sáu năm lăn lộn giữa chốn công đường, tôi đã quen với việc đối diện những ánh mắt quanh co, những lời khai che đậy và cả những giọt nước mắt cá sấu. Tôi tự tin mình có thể nhìn thấu tâm can đối phương qua từng cử chỉ nhỏ nhất. Thế nhưng, vào buổi sáng hôm ấy, chỉ một khoảnh khắc chạm mắt thoáng qua, toàn bộ bản lĩnh nghề nghiệp trong tôi bỗng chốc sụp đổ hoàn toàn.
Tôi nhận vụ án này qua trung tâm trợ giúp pháp lý chỉ vỏn vẹn trước ngày xét xử hai hôm. Thân chủ của tôi là một phụ nữ tên Hạnh, ba lăm tuổi, từng làm kế toán trưởng cho một xí nghiệp phân bón. Cô bị cáo buộc tội danh tham ô tài sản với số tiền lên đến hơn hai tỷ đồng của chính nơi mình gắn bó. Nhìn vào tập hồ sơ dày cộp hơn bốn trăm trang, đâu đâu cũng thấy chữ ký sắc nét của cô, từng chứng từ chuyển khoản đều qua tay cô phê duyệt. Đối với một người hành nghề luật, đây là dạng vụ án khép kín mà con đường duy nhất chỉ là tìm tình tiết giảm nhẹ để xin tòa khoan hồng.
Đêm đó, tôi thức trắng đến gần ba giờ sáng, cạn sạch bốn tách trà đặc để nghiền ngẫm từng trang giấy. Ở tờ khai lý lịch đầu tiên, có một dòng ngắn ngủi lướt qua mắt tôi: sinh ra tại vùng quê nghèo ven biển Thái Bình, mồ côi mẹ từ năm tám tuổi, lớn lên nhờ sự đùm bọc của người dì ruột. Chẳng hiểu vì lý do gì, khi vừa đọc đến câu ấy, lồng ngực tôi thắt lại một cách lạ kỳ. Tôi tự nhủ bản thân chắc chỉ vì quá kiệt sức do thiếu ngủ.
Cuộc đời tôi cũng là một khoảng trống khuyết vắng bóng hình người mẹ sinh thành. Năm lên bảy tuổi, tôi được một đôi vợ chồng hiếm muộn ở miền Nam nhận nuôi từ một mái ấm tình thương. Họ yêu thương tôi bằng tất cả tấm lòng, nuôi dạy tôi nên người. Dù vậy, suốt hơn hai mươi năm qua, ký ức tuổi thơ trong tôi chỉ là những mảnh ghép rời rạc: một góc bến xe ngập ngụa khói bụi, chiếc áo khoác dạ cũ kỹ có đính chiếc cúc kim loại hình hoa mai, và một bàn tay kiên quyết buông lơi tay tôi giữa biển người đông đúc. Mẹ nuôi từng bảo mẹ ruột đã nhẫn tâm bỏ rơi tôi từ bé. Tôi đã tin lời giải thích đó và mang theo nỗi oán hận người đàn bà chưa từng một lần gặp mặt suốt cả tuổi thanh xuân.
Chiếc cúc áo ngày xưa vẫn nằm lặng lẽ trong góc ví da của tôi, trở thành vật bất ly thân mà tôi chưa từng thổ lộ cùng ai.
Sáng hôm sau, bầu trời nặng trịch như chực chờ trút những cơn mưa giông mùa hạ. Tôi đến phòng xử từ sớm, ngồi lặng lẽ tại bàn dành cho người bào chữa để sắp xếp lại đống tài liệu. Khi cánh cửa sắt phía sau vang lên tiếng kịch cộm, hai cảnh sát tư pháp dẫn bị cáo bước vào.
Cô ấy gầy gò, làn da rám nắng sạm đi vì sương gió, khoác chiếc áo sơ mi trắng đã ố vàng, mái tóc búi vội vã sau đầu. Những bước chân chậm chạp, cúi gằm, đôi bàn tay đan chặt vào nhau run rẩy. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, cô bất giác ngẩng đầu lên.
Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi. Ánh mắt cô chết lặng khi nhìn vào mặt tôi, rồi dừng lại trân trối ở vết sẹo nhỏ hình trăng lưỡi liềm ngay đuôi lông mày trái của tôi. Nét mặt cô biến sắc hoàn toàn, hệt như người vừa chạm trán một bóng ma ban ngày.
Tôi cũng đờ đẫn tại chỗ. Không chỉ vì ánh nhìn xoáy sâu ấy, mà bởi tôi bỗng giật mình nhận ra ngón tay mình đang gõ nhịp đều đặn xuống mặt bàn gỗ. Ba nhịp ngắn, ngưng lại, rồi lại ba nhịp. Đó là tật xấu từ thời thơ ấu mỗi lúc tôi chìm trong lo âu. Và ngay lúc đó, ở phía bên kia khoảng cách lối đi, bàn tay của người bị cáo cũng đang gõ lên thành ghế gỗ y hệt như vậy. Ba nhịp, ngưng lại, rồi lại ba nhịp.
Hai đầu ngón tay cách nhau một khoảng không gian, nhưng lại hòa chung một nhịp điệu vô thức.
Tiếng gõ búa đanh thép của vị chủ tọa phiên tòa kéo tâm trí tôi trở lại thực tại. Đại diện viện kiểm sát đứng lên đọc bản cáo trạng với chất giọng đều đều, khô khan. Tôi ngồi chết trân ở ghế, không tài nào thu nạp nổi dù chỉ một từ. Tim tôi đập thình thịch vang dội trong lồng ngực, tai ù đặc đi.
Đến phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, vị thẩm phán chủ tọa nhìn xuống bị cáo và cất giọng hỏi: – Bị cáo có đồng ý để luật sư Quỳnh tham gia bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình hay không?
Cô không đáp lời ngay lập tức. Đôi mắt sưng húp nhìn đăm đăm vào tôi một hồi lâu, đôi môi khô khốc mím lại run bắn lên. Cả phòng xét xử chìm vào một không gian tĩnh lặng đến nghẹt thở. Cuối cùng, cô đứng thẳng người dậy, hai tay vẫn bấu chặt vào vành móng ngựa, cất giọng khàn đặc vì nghẹn ngào: – Thưa Hội đồng xét xử, tôi hoàn toàn đồng ý. Nhưng trước khi bắt đầu, tôi chỉ xin phép được hỏi vị luật sư đây một câu, duy nhất một câu thôi….
Vị thẩm phán nhíu mày nhìn bị cáo, đoạn đưa tay ra hiệu đồng ý với ánh mắt đầy ngạc nhiên. Hạnh quay hẳn người về phía bàn của tôi, hai hàng nước mắt tuôn rơi lã chã trên gương mặt hốc hác. Cô nghẹn ngào thốt lên những từ ngữ mà cả đời này tôi chưa từng nghĩ mình sẽ được nghe: – Chị… Chị có còn giữ chiếc cúc áo màu đỏ hình hoa mai năm xưa mẹ thêu trên vạt áo của đứa em gái út không?
Câu hỏi ấy vừa vang lên như một tiếng sét đánh ngang tai giữa phòng xử án vốn dĩ lạnh lùng. Thế giới xung quanh tôi bỗng chốc nhòe đi. Mọi âm thanh của tiếng xì xào từ hàng ghế dự khán, tiếng giấy xạt xào của thư ký tòa đều tan biến. Tôi từ từ đứng dậy, đôi chân mềm nhũn không đứng vững. Trí nhớ tôi bỗng trôi ngược về quá khู่, về bến xe ngập bụi năm nào, về chiếc áo khoác cũ và vết sẹo trên trán mà tôi hằng đinh ninh là do một tai nạn vô tình.
Tôi run rẩy đưa tay mở chiếc ví da màu sẫm mang theo bên mình suốt bao nhiêu năm, lấy ra mảnh kim loại nhỏ bọc vải đỏ đã phai màu theo tháng năm. Tôi giơ nó lên trước mặt cô. Hạnh nhìn thấy vật ấy, cô khuỵu gối ngã sụp xuống ngay tại bục khai báo, khóc nấc lên thành tiếng mặc cho lực lượng cảnh sát vội vàng đỡ lấy.
Hóa ra, ký ức của tôi về người mẹ bỏ rơi mình hoàn toàn là một sự hiểu lầm đắng cay. Năm ấy, gia đình nghèo túng đến bước đường cùng, mẹ gửi hai chị em chúng tôi ở bến xe để đi tìm người cứu viện, dặn dò chị em tôi nắm chặt tay nhau. Nhưng dòng người chen chúc đã cuốn tôi đi lạc, để rồi một mình tôi được đưa vào mái ấm, trong khi Hạnh – cô chị mới chín tuổi – đã kiên cường ở lại bến xe suốt ba ngày đêm tìm kiếm em gái trong vô vọng trước khi được họ hàng đón về nuôi. Cả đời này, Hạnh chưa từng buông bỏ niềm ân hận vì đã để thất lạc đứa em út. Và định mệnh trớ trêu thay, khi trưởng thành, trong một lần gia đình người dì lâm bệnh nặng nợ nần chồng chất, vì muốn bảo vệ căn nhà thờ của tổ tiên, Hạnh đã nhẹ dạ tin người, ký vào những giấy tờ khống mà giám đốc công ty giăng sẵn để rồi phải gánh chịu hoàn toàn tội lỗi thay cho kẻ khác.
Phòng xử án lúc này không còn ai giữ được vẻ lạnh lùng ban đầu. Vị thẩm phán sau khi nghe những lời trần tình đầy nước mắt và xem xét các chứng cứ mới do tôi khẩn cấp xuất trình về việc có dấu hiệu đồng phạm bỏ trốn của cấp trên, đã quyết định tạm hoãn phiên tòa để cơ quan điều tra mở rộng án.
Buổi chiều hôm đó, ánh nắng vàng rực rỡ chiếu qua khe cửa sổ phòng tạm giam. Tôi ngồi đối diện Hạnh qua lớp kính cách ly trong suốt. Không còn ranh giới giữa luật sư và bị cáo, không còn khoảng cách của những năm tháng xa cách, chúng tôi cùng áp bàn tay mình lên hai phía của tấm kính lạnh ngắt. Những giọt nước mắt lăn dài trên má, nhưng lần này, đó không phải là nước mắt của sự cay đắng hay oán hận, mà là sự hòa quyện muộn màng của tình huyết thống sau mấy mươi năm lưu lạc. Cuối cùng, hai chị em tôi đã tìm lại được nhau giữa chốn bão giông cuộc đời.