Vợ hiếm muộn chi trăm triệu đi lễ cầu con, ai ngờ sau chùa có đứa trẻ giống chồng như đúc
Tôi quỳ xuống. Hai đầu gối đập xuống nền đất ẩm sau cơn mưa, bùn ngấm qua lớp vải quần tây đắt tiền, lạnh buốt. Cả đời tôi chưa từng cúi đầu trước ai. Ra đường, người ta gọi tôi là “anh Nghĩa”, khúm núm dạ vâng. Vậy mà hôm ấy, tôi quỳ trước một thằng bé sáu tuổi.
Nó gầy nhom, mặc chiếc áo lam cũ sờn cổ, chân đi đôi dép tổ ong ố vàng, quai bên phải đứt, buộc tạm bằng sợi dây chuối khô vòng qua gót. Tôi chìa hai tay ra, giọng vỡ vụn:
– Con ơi… gọi bố một tiếng thôi. Cho bố ôm con một cái thôi…
Nó không khóc. Mặt nó lặng như nước giếng. Nó chắp hai bàn tay đen nhẻm trước ngực, lùi lại mấy bước:
– Chú đi đi. Chú làm mẹ cháu khóc.
Chú. Con ruột tôi gọi tôi là chú. Chữ ấy sắc như lưỡi lam, rạch thẳng vào tim. Để hiểu vì sao một kẻ từng có tất cả lại quỳ ở đó, tôi phải kể lại từ ngày rằm tháng Bảy năm ngoái.
Tôi và Yến cưới nhau năm năm, sống trong căn biệt thự ba tầng, tiền tiêu không phải nghĩ. Ai cũng bảo tôi số hưởng: vợ giàu, bố vợ là sếp lớn trong ngành, còn tôi ngồi ghế phó phòng khi chưa đến bốn mươi. Nhưng năm năm, bụng Yến vẫn phẳng lì. Bác sĩ trong nước, ngoài nước đều lắc đầu.
Mẹ tôi – người đàn bà cả đời bươn chải, giẫm lên không biết bao nhiêu người để dựng nên cơ ngơi nhà họ Trọng – phát cuồng vì một đứa cháu đích tôn. Còn Yến thì sợ. Không đẻ được con trai, cái ghế con dâu của nó lung lay, tài sản nhà chồng có thể tuột khỏi tay. Thế là hai người đàn bà quyền lực nhất nhà tôi lao vào cúng bái như đi buôn.
Rằm tháng Bảy, nghe đồn có ngôi chùa cổ trên núi cầu gì được nấy, nhà tôi thuê hai xe mười sáu chỗ. Một xe chở ba người, xe kia tháo hết ghế để chất lễ: hai con heo quay bóng mỡ, xôi gấc ép khuôn chữ Lộc to bằng cái mâm, vàng mã chất thành núi. Yến thuê thêm chục ông xe ôm dưới chân núi, chỉ để khuân đồ theo hầu.
Bước vào sân chùa, Yến không chắp tay chào vị sư già nào. Nó dúi cọc tiền vào tay chú tiểu, hất hàm:
– Mang lên cho sư trụ trì. Nhà tao muốn mâm lễ to nhất đặt chính giữa. Dẹp mấy đĩa hoa quả lèo tèo kia đi.
Mẹ tôi thì thấy hòm công đức nào là nhét tiền vào hòm đó, vừa nhét vừa khấn oang oang xin “thằng cháu đích tôn”. Yến cười: “Mẹ yên tâm, con cúng bằng cả năm chùa này thu, Phật nào chẳng phải nể.”
Mùi nước hoa trộn với mỡ heo quay và khói nhang làm tôi buồn nôn. Tôi lách khỏi đám đông, vòng ra sân sau tìm chỗ hút thuốc. Tôi không biết mình đang bước thẳng vào bản án của đời mình.
Sân sau rợp bóng đa cổ thụ, chỉ có tiếng chổi tre xoẹt xoẹt, chậm và nhọc. Giữa sân là một thằng bé. Cán chổi dài gấp rưỡi người, nó phải kẹp vào nách, tì cả vai để đẩy từng búi lá đa ướt. Được ba bốn nhát lại dừng, thở hắt ra, nhưng không một tiếng than.
Cách bức tường chưa đầy hai mươi mét, vợ tôi đang rải tiền xin Phật nặn ra một đứa con. Còn ở đây, một đứa trẻ bằng xương bằng thịt sống lầm lũi như hạt bụi.
Điếu thuốc cháy tới đầu lọc, bỏng tay mà tôi không hay. Có cái gì đó bóp chặt lồng ngực. Tôi bước ra. Tiếng giày da nện xuống sân gạch làm nó dừng tay, quay lại.
Khoảnh khắc nó ngẩng mặt lên, mọi thứ xung quanh nhòe đi. Cái trán bướng, sống mũi thẳng, đôi lông mày rậm hơi xếch ở đuôi, cả cái cách mím môi khi gặp người lạ. Tôi đang nhìn chính mình của ba mươi năm trước.
– Cháu tên gì? Bố mẹ cháu đâu?
Nó chắp tay, cúi đầu:
– Nam mô A Di Đà Phật. Cháu tên An Bình, sáu tuổi. Thí chủ lạc đường ạ?
Thí chủ. Hai chữ lạnh như gáo nước đá. Rồi nó cụp mắt, giọng nhỏ lại:
– Cháu không có bố. Mẹ bảo cháu không có bố. Mẹ cháu đang tụng kinh dưới nhà ngang.
Sáu tuổi. Bảy năm trước. Một tia sét xẹt qua đầu tôi. Tôi đưa tay định xoa đầu nó, nó lùi phắt lại, mắt cảnh giác. Bàn tay tôi chơi vơi giữa không trung.
– Nghĩa! Mày trốn ra đây làm gì? Lộc xôi gấc đây, ăn đi cho có con!
Mẹ tôi bưng khay xôi bước tới, miệng càu nhàu. Rồi bà nhìn theo ánh mắt tôi. Cả người bà cứng đờ.
An Bình sợ, vội cúi xuống vơ lá vào sọt. Chiếc áo lam rộng thùng thình trễ xuống, để lộ cái gáy gầy. Ngay dưới chân tóc là một vết bớt đỏ tía hình nửa vầng trăng.
Máu trong người tôi đông lại. Sau gáy tôi, đúng chỗ ấy, cũng có một vết bớt y hệt. Ông nội tôi có, bố tôi có. Đàn ông dòng đích nhà họ Trọng, ai sinh ra cũng mang nó.
Choang! Khay xôi rơi, chữ Lộc vỡ nát, đỏ tung tóe dưới chân. Mẹ tôi giẫm lên đống xôi, lao tới chộp lấy hai vai thằng bé, gào như mê sảng:
– Trời Phật ơi, cháu tôi! Mẹ cháu tên Thương phải không? Phải không?…………..

Chương 1: Giọt Máu Lưu Lạc Bên Mái Chùa Cổ
Tiếng khay xôi vỡ nát âm vang giữa khoảng sân sau thanh tĩnh như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào lồng ngực tôi. Những hạt xôi gấc màu đỏ tươi văng tung tóe trên nền gạch rêu phong, nham nhở như những giọt máu tươi vừa rỉ ra từ một vết thương chưa từng khép miệng.
Mẹ tôi – người đàn bà cả đời chưa từng cúi đầu trước bất kỳ ai, người từng cay nghiệt đuổi Thương ra khỏi nhà với vài triệu đồng dằn túi bảy năm trước – giờ đây quỳ sụp xuống đất. Đôi bàn tay đeo đầy nhẫn kim cương và vòng cẩm thạch đắt tiền của bà run rẩy dữ dội, chộp lấy hai bờ vai gầy gò của đứa trẻ sáu tuổi.
An Bình hoảng sợ. Đứa trẻ co rúm người lại, đôi mắt đen láy mở to nhìn người đàn bà sang trọng đang gào khóc trước mặt mình. Nó ra sức vùng vẫy, chiếc chổi tre rớt khỏi tay, đập một tiếng chát khô khốc xuống sàn đá.
– Chú ơi… Bà ơi… Thả cháu ra! Mẹ cháu dặn không được nói chuyện với người lạ! – Giọng đứa trẻ lạc đi, chan chứa sự hốt hoảng.
– Thương! Mẹ cháu tên Thương đúng không?! Trả lời bà đi con! – Mẹ tôi gào lên, đôi mắt đỏ ngầu vệt đầy tia máu. Bà giơ tay định chạm vào khuôn mặt nhỏ nhắn của nó, nhưng An Bình đã lùi phắt lại, dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh bà ra rồi quay đầu chạy thắt thanh về phía dãy nhà ngang mù mịt khói nhang.
Tôi đứng chết trân. Cả cơ thể tôi như bị đóng đinh xuống nền gạch ẩm ướt.
Thương…
Cái tên ấy đã bị bóp chết trong tâm trí tôi suốt mười năm qua, bị chôn vùi dưới hàng đống hợp đồng kinh doanh, những bữa tiệc rượu sặc mùi tiền bạc và cả sự xa hoa giả tạo của gia đình vợ. Bảy năm trước, Thương – cô gái phụ bếp nghèo khổ, hiền lành mà tôi yêu bằng tất cả sự chân thành của tuổi trẻ – đã đột ngột ôm quần áo rời khỏi căn hộ trọ mà không một lời giã biệt. Ngày ấy, mẹ tôi bảo cô ta đã cầm hai mươi triệu đồng của bà để đi theo một người đàn ông giàu có khác. Tôi, vì sự kiêu hãnh ngông cuồng của một kẻ mới bước chân vào giới kinh doanh, đã tin lời mẹ và căm hận cô suốt từng ấy năm.
Nhưng vết bớt hình vầng trăng khuyết ngay dưới chân tóc của An Bình… cái trán bướng bỉnh và đôi mắt rập khuôn của dòng họ Trọng… không hề biết nói dối.
– Nghĩa! Mày còn đứng đó làm gì?! Đuổi theo nó! Đuổi theo con mày nhanh lên! – Mẹ tôi xoay người lại, nắm lấy vạt áo vest của tôi mà lay giật liên hồi. Nước mắt, phấn trang điểm đắt tiền nhòe nát trên gương mặt nhăn nheo của bà. – Đó là cháu đích tôn nhà họ Trọng! Là ruột thịt của mày đấy Nghĩa ơi!
Tôi không bước nổi. Hai chân tôi nặng như đeo đá.
Đúng lúc đó, tiếng guốc cao gót rộn rã cùng mùi nước hoa Chanel xa xỉ sộc tới. Yến – vợ tôi – bước ra từ lối đi bên hông điện thờ, tay cầm chiếc quạt trầm hương vừa quạt vừa nhăn mặt:
– Anh Nghĩa! Mẹ! Hai người làm cái gì ngoài này mà ầm ĩ thế? Mâm lễ chính cúng xong rồi, sư thầy bảo vào thụ lộc…
Lời Yến ngưng bạt giữa chừng. Ánh mắt cô ta lướt qua khay xôi vỡ nát dưới đất, rồi dừng lại ở dáng vẻ hoảng loạn, gục ngã của mẹ chồng. Yến nhíu đôi lông mày được xăm tỉa sắc nét, giọng nói thoáng chút nghi ngờ lẫn khó chịu:
– Mẹ sao thế? Sao lại quỳ ở đây? Còn cái khay xôi Lộc mấy triệu bạc sao lại làm đổ thế này?
Mẹ tôi ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn Yến không còn sự nuông chiều, nể sợ như mọi ngày. Thay vào đó là một sự tức giận ẩn giấu, pha lẫn niềm cay đắng tột cùng. Bà không trả lời Yến, chỉ bấu chặt lấy tay tôi, nghiến răng rít qua kẽ răng:
– Nghĩa… Đi tìm mẹ con nó ngay cho tao!
Chương 2: Cuộc Tráo Đổi Đắng Ngắt Nơi Dãy Nhà Ngang
Dãy nhà ngang nằm khuất sau những hàng cây bồ đề cổ thụ, mùi khói thuốc bắc và hương trầm quyện lại tạo nên một bầu không khí u uất, tĩnh mịch.
Tôi bước đi như kẻ mộng du. Mẹ tôi lật lật chiếc gậy trúc theo sau, tiếng bước chân vội vã vang lên dồn dập. Yến nhón chân đi sau cùng, đôi guốc 10 phân nện xuống sàn đá kêu cộp cộp khó chịu, miệng không ngừng cằn nhằn về sự kỳ lạ của hai mẹ con tôi.
Đến trước cánh cửa gỗ sờn màu mục nát của gian phòng cắm hoa cúng, tiếng nói chuyện nhỏ nhẹ bên trong vọng ra:
– Bình ơi, uống ngụm nước đi con. Sao tay chân lại run thế này? Lại trêu mấy chú tiểu ngoài sân à?
– Không phải đâu mẹ… Có ông bà lạ lắm. Bà kia tự nhiên ôm lấy con rồi khóc, đòi tìm mẹ…
Cánh cửa gỗ bị mẹ tôi đẩy tung ra một cách bạo liệt.
Rầm!
Ánh sáng mờ ảo từ gian sân hắt vào trong phòng. Người phụ nữ đang quỳ dưới sàn để cắm những cành hoa cúc vàng giật mình quay lại.
Bộ quần áo nâu sẫm rộng thùng thình không che nổi vóc dáng gầy guộc, xơ xác. Mái tóc đen dài ngày xưa giờ được búi gọn đằng sau bằng chiếc kẹp nhựa giản dị. Gương mặt cô ấy nhợt nhạt, những nét thanh xuân mỏng manh ngày nào đã bị thời gian và gian khó bào mòn, để lại những vệt chân chim sâu thẫm quanh khóe mắt.
Đó là Thương.
Hai ánh mắt chạm nhau giữa không trung. Thời gian như ngưng đọng lại trong khoảnh khắc ấy.
Chiếc kéo cắt hoa trên tay Thương rơi xuống sàn gỗ kêu một tiếng chát. Đôi mắt cô xòe to, rồi nhanh chóng chìm vào một sự sợ hãi và u uất tột cùng. Cô lập tức ôm lấy An Bình, kéo đứa trẻ vào lòng, giấu nó sau lưng mình như một bản năng sinh tồn.
– Hai… hai người đến đây làm gì? – Giọng Thương run rẩy, không phải vì sợ hãi, mà vì một sự căm giận dồn nén suốt bảy năm qua.
Mẹ tôi lao tới, không còn vẻ hợm hĩnh của một bà chủ giàu có. Bà quỳ sụp xuống trước mặt Thương, đôi bàn tay chắp lại trước ngực:
– Thương ơi… Mẹ xin con! Cho mẹ nhìn mặt cháu một chút! Thằng An Bình… nó là con thằng Nghĩa đúng không con?
– Bà không có quyền gọi nó là cháu! – Thương đứng phắt dậy, cất giọng đanh thép. Đôi mắt cô rực lên ngọn lửa căm hường mà tôi chưa từng thấy trong suốt những năm tháng bên cô. – Bảy năm trước, chính bà đã đưa cho tôi một triệu đồng, bắt tôi nạo bỏ cái thai này! Chính bà đã dọa nếu tôi không biến mất khỏi thành phố, bà sẽ cho người đánh gãy chân bố tôi ở quê! Giờ bà sang trọng, quyền quý đến đây để đòi cháu sao?!
Ầm!
Lời nói của Thương như một quả bom phát nổ ngay giữa gian phòng.
Tôi quay phắt sang nhìn mẹ. Đầu óc tôi quay mòng mòng, mọi mạch máu như muốn vỡ tung ra.
– Mẹ… Mẹ nói sao? – Giọng tôi khàn đặc, rung lên vì sự bàng hoàng tột độ. – Một triệu? Nạo thai? Dọa đánh gãy chân bố cô ấy?! Không phải mẹ bảo Thương cầm hai mươi triệu của mẹ để đi theo người khác sao?!
Mẹ tôi cúi gằm mặt xuống sàn nhà, không thốt nổi một lời. Sự im lặng của bà chính là sự thừa nhận tàn nhẫn nhất.
Hóa ra, suốt bảy năm qua, tôi đã sống trong một dối lừa kinh hoàng do chính người mẹ đẻ của mình dựng lên. Người phụ nữ mà tôi cho là phụ bạc, phản bội… lại là người đã âm thầm chịu đựng sự đe dọa, nhẫn nhục ôm thai nhi trốn chạy đến tận ngôi chùa cổ này để sinh con và nuôi nó khôn lớn bằng những bát cơm chay và việc lau dọn chùa mỗi ngày!
Yến đứng ở cửa phòng, gương mặt sắc sảo giờ đây tái xanh như đít nhái. Cô ta nhìn Thương, nhìn An Bình, rồi quay sang nhìn mẹ chồng đang quỳ dưới đất. Sự thông minh, ma quái của một cô tiểu thư giàu có giúp Yến lập tức nhận ra thảm họa đang giáng xuống đầu mình.
– Mẹ! Mẹ điên rồi à?! – Yến lao vào kéo tay mẹ tôi đứng dậy, gào lên chua chát. – Bà này là ai? Thằng bé này ở đâu ra mà mẹ nhận là cháu?! Biết đâu nó là con của kẻ nào rồi mang đến đây tống tiền nhà mình? Mẹ đừng có để người ta dắt mũi!
– Cô câm miệng lại! – Tôi quay sang quát lớn, giọng đanh lại đến mức chính tôi cũng chưa từng nghe thấy ở bản thân.
Tôi tiến lại gần Thương. Mẹ con cô ấy lùi lại sát góc tường. An Bình giấu mặt vào vạt áo nâu của mẹ, đôi mắt nhỏ ánh lên sự cảnh giác và căm ghét hướng về phía tôi.
– Thương… – Tôi quỳ xuống trước mặt cô. Hai đầu gối đập xuống nền đất ẩm sau cơn mưa, bùn ngấm qua lớp vải quần tây đắt tiền, lạnh buốt. Cả đời tôi chưa từng cúi đầu trước ai, nhưng lúc này, sự hối hận và nhục nhã đang thiêu đốt từng tế bào trong cơ thể tôi. – Anh xin lỗi… Anh thật sự không biết…
– Anh không biết hay anh không muốn biết? – Thương mỉm cười cay đắng, nước mắt trào ra giàn giụa trên gò má nhăn nheo. – Năm đó anh bận đi du học, bận làm quen với cô tiểu thư giàu có này để leo lên cái ghế phó phòng. Anh có bao giờ về lại căn phòng trọ cũ để hỏi xem tôi sống thế nào không?
– Không… Anh không… – Tôi thều thào, nước mắt rơi xuống vạt áo.
– Đi đi. – Thương lạnh lùng quay mặt đi, ôm chặt An Bình. – Nơi này là chùa chiền thanh tịnh, không có chỗ cho những mưu tính, cúng bái giả dối của gia đình các người. Thằng bé tên là An Bình, nó không mang họ Trọng, cũng không liên quan gì đến các người cả.
An Bình ngẩng đầu ra khỏi áo mẹ. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt trong veo nhưng lạnh ngắt:
– Chú đi đi. Chú làm mẹ cháu khóc.
Chương 3: Trận Chiến Của Những Người Đàn Bà
Chiếc xe mười sáu chỗ trở về thành phố trong một bầu không khí u uất, nặng nề như một đám tang.
Toàn bộ số vàng mã, cỗ heo quay đắt tiền bị bỏ lại ở chùa. Mẹ tôi ngồi ở ghế trên, suốt chặng đường dài không ngừng khóc lóc và lẩm bẩm tên “An Bình”. Sự thèm khát đứa cháu đích tôn suốt năm năm qua, cộng thêm sự cắn rứt lương tâm đột ngột bùng phát khiến bà như người mất trí.
Trong khi đó, ở căn biệt thự ba tầng sang trọng, một cuộc chiến ngầm đã chính thức bùng nổ.
Yến không còn giữ vẻ dịu dàng, ngoan ngoãn của cô con dâu nhà đại gia nữa. Ngay khi vừa bước chân vào phòng khách, cô ta ném chiếc túi xách đắt tiền lên bàn trà, khoanh tay đứng trước mặt mẹ chồng và tôi, giọng điệu sắc lẹm:
– Con nói cho mẹ và anh Nghĩa biết! Đừng có mơ đem cái đứa con rơi con vãi đó về cái nhà này!
Mẹ tôi ngẩng đầu lên, ánh mắt đỏ ngầu nhìn Yến:
– Cô nói cái gì?! Đó là giọt máu duy nhất của dòng họ Trọng! Cô không đẻ được con cho nhà này, giờ tôi tìm thấy cháu tôi, cô lại không cho nhận sao?!
– Hừ! – Yến cười nhạt một tiếng đầy khinh bỉ. – Mẹ quên mất căn biệt thự này đứng tên ai rồi à? Mẹ quên mất cái ghế phó phòng của anh Nghĩa do ai cất nhắc rồi à? Năm năm qua, nhà tôi dồn bao nhiêu tiền bạc, mối quan hệ để lo cho anh Nghĩa, giờ mẹ định mang một đứa con riêng của cô phụ bếp về chia tài sản sao? Đừng có mơ!
– Cô… Cô… – Mẹ tôi tức đến nghẹn lời, ngón tay run rẩy chỉ vào mặt Yến.
– Anh Nghĩa! – Yến quay sang nhìn tôi, ánh mắt tàn nhẫn và quyết đoán. – Anh chọn đi! Một là giữ cái ghế phó phòng, giữ căn biệt thự này và tiếp tục sống với em. Hai là anh ra đi với hai bàn tay trắng, quay về với cô phụ bếp và đứa con hoang đó! Em cho anh ba ngày để suy nghĩ!
Nói xong, Yến quẩy gót bước lên cầu thang, tiếng guốc cao gót nện xuống sàn gỗ nghe chói tai.
Tôi ngồi gục xuống chiếc ghế sofa da cao cấp. Căn nhà sang trọng, lộng lẫy mà tôi từng tự hào, giờ đây giống như một chiếc lồng sắt lạnh ngắt.
Tôi nhớ lại hình ảnh An Bình mặc chiếc áo lam cũ sờn, chân đi đôi dép tổ ong buộc dây chuối. Tôi nhớ lại ánh mắt kiên cường của Thương khi ôm con trong gian phòng cắm hoa. Họ nghèo khổ, họ sống nhờ sự từ bi của nhà chùa, nhưng họ có sự bình yên và lòng tự trọng – những thứ mà tôi đã đánh mất từ lâu khi bán mình cho sự giàu sang giả dối này.
Đêm đó, tôi trằn trọc không ngủ.
Khoảng hai giờ sáng, tôi nghe tiếng bước chân nhẹ nhàng ngoài hành lang. Mẹ tôi lén bước vào phòng làm việc của tôi. Gương mặt bà già sọp đi chỉ sau một ngày.
– Nghĩa ơi… – Mẹ tôi thì thào, tay cầm chiếc chìa khóa két sắt. – Mẹ sai rồi… Mẹ có lỗi với mẹ con thằng Bình. Mẹ có tiền tiết kiệm riêng khoảng năm tỷ… Mẹ đưa cho mày, mày lên chùa đưa cho mẹ con nó, rồi đón chúng nó về thành phố thuê nhà ở…
Tôi nhìn mẹ, cay đắng mỉm cười:
– Mẹ nghĩ tiền giải quyết được tất cả sao mẹ? Bảy năm trước mẹ dùng tiền đuổi cô ấy đi, giờ mẹ lại dùng tiền để mua lại con trai cô ấy? Thương không cần tiền của mẹ. Điều cô ấy cần… là sự công bằng và đạo đức mà gia đình mình đã chà đạp.
Chương 4: Đòn Phản Công Của Kẻ Quyền Lực
Ba ngày sau.
Tại trụ sở Công ty Xây dựng Phát Đạt – nơi tôi đang làm việc – bầu không khí bỗng trở nên căng thẳng khác thường.
Khi tôi vừa bước vào văn phòng, những ánh mắt bàn tán, soi moi của đồng nghiệp lập tức hướng về phía tôi. Trên bàn làm việc của tôi đã đặt sẵn một quyết định tạm đình chỉ công tác để “điều tra về một số sai phạm trong khâu quản lý dự án bãi bồi”.
Quyết định do chính tay Bố vợ tôi – Tổng giám đốc công ty – ký duyệt.
Tôi bước vào phòng làm việc của bố vợ. Người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi, quyền lực và lạnh lùng đang thong thả nhấp trà bên bàn làm việc lim nguyên khối.
– Bố… – Tôi cất giọng.
– Đừng gọi tôi là bố, – Ông ta ngắt lời tôi bằng một giọng đanh thép, không cần ngẩng đầu lên. – Con Yến đã kể cho tôi nghe toàn bộ sự việc. Anh Nghĩa này, anh từ một kẻ tay trắng, được gia đình tôi cất nhắc lên vị trí hôm nay. Anh tưởng anh có quyền làm tổn thương con gái tôi sao?
– Con không làm gì sai với Yến cả, – tôi đáp, giữ vững sự điềm tĩnh. – Đó là đứa con riêng của con từ trước khi con quen Yến. Con có trách nhiệm phải nuôi dưỡng nó.
– Trách nhiệm? – Bố vợ tôi bật cười khinh bỉ. – Ở cái xã hội này, trách nhiệm của anh là phải giữ vững vị thế và tài sản của gia đình nhà vợ! Tôi cho anh hai lựa chọn: Một là dứt khoát cắt đứt với mẹ con cô ta, gửi một khoản tiền bắt cô ta ký cam kết không bao giờ xuất hiện ở thành phố này nữa. Hai là… anh bước ra khỏi công ty này với một hồ sơ đen, và căn biệt thự kia cũng sẽ bị thu hồi ngay lập tức!
Tôi nhìn người đàn ông quyền lực trước mặt. Hóa ra, đằng sau vỏ bọc gia phong, giàu có của nhà vợ tôi chỉ là sự tàn nhẫn, coi thường con người và dùng tiền quyền để thao túng tất cả.
Tôi mỉm cười – một nụ cười giải thoát chưa từng có trong suốt năm năm làm dâu nhà đại gia.
Tôi đưa tay tháo chiếc thẻ phó phòng trên ngực, đặt nhẹ nhàng lên bàn làm việc của ông ta.
– Cảm ơn ông đã cất nhắc con suốt những năm qua. Nhưng cái ghế này… con xin trả lại. Con thà làm một người bố nghèo khổ nhưng đàng hoàng, còn hơn làm một kẻ phục tùng giàu có nhưng mất đi bản chất con người.
Nói xong, tôi quay lưng bước ra khỏi phòng làm việc, không một chút tiếc nuối trước ánh mắt bàng hoàng của bố vợ.
Chương 5: Bắt Đầu Lại Từ Đống Đổ Nát
Tôi trở về nhà, thu dọn toàn bộ quần áo cá nhân vào một chiếc vali nhỏ. Yến ngồi ở sofa phòng khách, nhìn tôi với ánh mắt vừa ngỡ ngàng vừa căm tức.
– Anh điên rồi sao Nghĩa?! Anh bỏ tất cả chỉ vì một đứa con rơi và cô phụ bếp nghèo khổ đó sao?!
– Anh không bỏ tất cả, Yến ạ, – tôi nhìn cô ấy lần cuối. – Anh chỉ đang đi tìm lại những gì anh đã đánh mất thôi. Cảm ơn em vì năm năm qua. Đơn ly hôn anh đã ký sẵn trên bàn.
Tôi xách vali bước ra khỏi căn biệt thự ba tầng. Mẹ tôi đi theo tôi ra tận cổng, khóc nức nở. Bà đưa cho tôi chiếc thẻ ATM chứa toàn bộ tiền tiết kiệm của bà, nhưng tôi từ chối:
– Mẹ giữ lại mà dưỡng già. Con sẽ tự chăm sóc mẹ con thằng Bình bằng chính đôi tay của con.
Tôi dùng số tiền tiết kiệm ít ỏi còn lại từ lương cá nhân, thuê một căn nhà nhỏ ở thị trấn gần chân núi nơi chùa cổ tọa lạc. Tôi nộp đơn xin làm kỹ sư giám sát công trình cho một công ty xây dựng nhỏ ở địa phương với mức lương khiêm tốn.
Mỗi chiều sau giờ làm, tôi lại đi bộ lên chùa.
Tôi không dám vào gian nhà ngang để làm phiền Thương. Tôi chỉ đứng ở góc sân sau, lặng lẽ nhìn An Bình quét lá đa, nhìn Thương cắm hoa cúng.
Ban đầu, An Bình vẫn né tránh tôi. Mỗi lần thấy tôi, nó lại chạy trốn sau lưng mẹ. Nhưng tôi không bỏ cuộc. Hôm thì tôi mang cho nó chiếc ô tô đồ chơi nhỏ, hôm thì mang cho nó bộ sách tô màu, hôm thì lặng lẽ ngồi phụ nó gom những đống lá đa khô vào sọt.
Một chiều mưa mùa thu, khi sương mù bắt đầu phủ kín mái chùa cổ, tôi thấy An Bình đang loay hoay cố đẩy chiếc sọt lá đa nặng nề lên dốc. Tôi bước lại gần, nhẹ nhàng nâng chiếc sọt giúp nó.
Đứa trẻ dừng lại, ngước đôi mắt tròn xoe nhìn tôi. Nó không chạy đi nữa.
– Chú… Chú không về thành phố ạ? – An Bình cất giọng nho nhỏ.
– Chú không về nữa. Chú ở lại đây với con và mẹ. – Tôi mỉm cười, ngồi xuống chiều cao bằng nó.
An Bình nhìn chiếc xe ô tô đồ chơi trên tay tôi, rồi lại nhìn vết bớt hình vầng trăng khuyết sau cổ tôi – vết bớt hệt như của nó. Đôi bàn tay nhỏ bé, đen nhẻm của nó chậm rãi đưa ra, nắm lấy ngón tay trỏ của tôi.
– Mẹ cháu bảo… người nào có cái bớt giống cháu thì là người thân… – Đứa trẻ thầm thì, giọt nước mắt trong veo đọng trên khóe mi. – Chú… Chú có phải là bố cháu không?
Lồng ngực tôi nhói đau, giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má chai sạn. Tôi ôm chầm lấy đứa con trai sáu tuổi vào lòng, siết chặt thân thể nhỏ bé của nó trong vòng tay.
– Đúng rồi con… Bố đây… Bố xin lỗi con…
Ở phía xa, dưới mái hiên chùa cổ, Thương đứng nhìn hai cha con tôi. Nước mắt cô lăn dài trên gò má, nhưng trên môi đã nở một nụ cười dịu dàng dưới ánh chiều tà.
Bầu trời sau cơn mưa trở nên xanh trong lạ kỳ. Tôi biết, con đường phía trước để chữa lành những vết thương quá khứ còn rất dài, nhưng giữa mái chùa cổ thanh tĩnh này, một cuộc sống mới thực sự bình yên của gia đình tôi đã bắt đầu.