
Tôi năm nay 72 tuổi, cái tuổi mà người ta bảo là thất thập cổ lai hy. Nhưng cuộc đời tôi chưa từng được an nhàn. Hồi vợ tôi còn sống, bà ấy chu toàn mọi thứ. Tôi đi làm về là cơm bưng nước rót tận miệng, quần áo ủi thẳng tắp treo sẵn. Suốt mấy chục năm làm chồng, tôi chưa từng đụng tay vào cái chậu hay bật cái bếp ga. Tôi cứ nghĩ mình có phước, đời này chắc chắn an nhàn đến lúc nhắm mắt. Nhưng ông trời đâu có cho ai trọn vẹn bao giờ. Ba năm trước, vợ tôi đột ngột qua đời, bỏ lại tôi bơ vơ trong căn nhà rộng thênh thang. Tôi không biết nấu ăn, không biết giặt giũ, đói thì ra đầu ngõ ăn hủ tiếu, quần áo thì gom lại đem ra tiệm giặt. Nhà cửa bụi bám từng lớp, lạnh lẽo vắng ngắt. Có những đêm nằm một mình nghe tiếng thạch sùng kêu mà tôi ứa nước mắt tủi thân.
Tôi có một đứa con trai tên Hoàng, nó giỏi giang lắm, qua Mỹ du học rồi định cư bên đó. Nó lấy vợ là Hương, một cô gái người Việt nhưng qua Mỹ từ nhỏ, tính tình lối sống y chang người Mỹ. Vợ chồng nó có một thằng con trai năm tuổi. Hồi vợ tôi mất, chúng nó bay về chịu tang. Thằng Hoàng nói: “Ba ơi, má mất rồi, ba ở đây một mình tội nghiệp quá. Hay ba làm hồ sơ qua Mỹ ở với tụi con.” Lúc đó tôi mừng lắm, nghĩ con mình có hiếu, qua đó có con có cháu, mỗi ngày được ăn cơm chung thì còn gì bằng. Hồ sơ chờ đợi hơn hai năm mới có visa. Cái ngày cầm visa trên tay, tôi đi khoe khắp xóm, ai cũng khen tôi có phước. Tôi đóng thùng đủ thứ đồ: cá khô, tôm khô, mắm nêm, áo lạnh. Tôi đinh ninh sang đó sẽ sướng như tiên, có con dâu nấu cơm, có con trai chở đi chơi cuối tuần.
Chuyến bay gần 24 tiếng làm cái xương cốt tuổi già của tôi giã rời. Vừa bước ra khỏi sân bay California, cái lạnh hắt vào mặt. Thằng Hoàng lái xe to đùng ra đón, ôm chầm lấy tôi. Không thấy con Hương với cháu nội đâu, nó bảo vợ ở nhà dọn phòng nấu ăn chờ ba. Tôi ấm lòng. Xe chạy qua những con đường cao tốc, tôi mở to mắt nhìn nước Mỹ, cái xứ sở được đồn là thiên đường. Về tới nhà, đó là một căn nhà gỗ sơn màu xanh mướt, đẹp lắm. Vừa bước vào, máy lạnh phả ra mát rượi, sàn gỗ bóng láng. Hương đứng trong bếp, mặc quần đùi áo thun mỏng, thấy tôi chỉ cười gật đầu: “Ba mới qua, chuyến bay dài ba có mệt không?” Tôi hỏi thăm cháu thì nó bảo đang trong phòng chơi game. Rồi nó quay sang bảo thằng Hoàng mang đồ vào cẩn thận kẻo trầy sàn. Tôi hơi sượng, nhưng tự nhủ bên Mỹ người ta thực tế, không màu mè.
Tôi xách túi bước đôi dép lê dính bụi vào phòng khách, ngồi phịch xuống ghế sofa trắng. Hương nhíu mày, nói tôi ra cửa tháo dép, lại bảo quần áo tôi dơ, đừng ngồi lên sofa kẻo dính vi khuẩn. Tôi đỏ mặt, vội lùi lại. Thằng Hoàng can vào, dẫn tôi vào phòng tắm. Trong đó thơm phức, bồn cầu trắng bóc, vòi nước inox sáng loáng. Tôi đi vệ sinh rồi gác chân lên bồn rửa mặt rửa chân như ở quê, dùng luôn cái khăn trắng treo đó lau mặt, lau tay rồi lau xuống chân. Ra ngoài, tôi bảo thằng Hoàng khui thùng mắm tôm, mắm tép mang từ Việt Nam sang. Vừa cắt nilon, mùi mắm nồng nặc bay khắp nhà vì máy lạnh trung tâm. Hương đang dọn đồ ăn, ôm mũi chạy ra sân ho sặc sụa. Thằng Hoàng vội mở cửa sổ bật quạt hút. Một lúc sau, Hương đi vào phòng tắm, rồi la lên thất thanh, tay cầm cái khăn tôi vừa lau chân, mặt đỏ phừng. Nó quăng khăn vào thùng rác, nhìn thẳng tôi: “Ba làm cái gì trong phòng tắm của con vậy? Ba đưa chân lên bồn rửa mặt và lấy khăn này lau chân hả?” Tôi ấp úng: “Ở quê ba hay làm vậy mà, có sao đâu.” Nó gằn giọng: “Cái bồn đó để rửa mặt đánh răng, cái khăn đó con mua để lau mặt cho thằng Ken. Ba lấy lau chân thúi của ba, ai xài nữa? Ở bên này không giống quê ba đâu!” Tôi nổi giận: “Mày dám nói vậy với tao hả con? Tao lặn lội qua đây để bị mày chửi hả?” Nó đáp: “Con không chửi, con dạy ba cách sống ở Mỹ. Đồ mắm hôi hám đem ra sân sau ăn. Khăn mặt con mua riêng cho ba. Đừng gác chân lên bồn rửa mặt nữa, tởm lắm!”
Đêm đầu tiên trên đất Mỹ, tôi thức trắng. Nỗi tủi thân dâng trào. Sáng hôm sau, thằng Hoàng đi làm sớm, một mình tôi với con dâu. Nó đưa tôi tô sữa lạnh ngắt với ngũ cốc, bảo đây là bữa sáng, trưa tự lấy bánh mì quết bơ mà ăn, đừng đi lung tung kẻo cảnh sát bắt. Tôi ăn hai muỗng rồi bỏ, bao tử già nua không chịu nổi đồ lạnh. Nhìn căn bếp hiện đại sáng bóng mà lòng trống vắng, chẳng có hơi ấm con người. Sau khi con dâu đưa cháu đi học, căn nhà chỉ còn mình tôi, tĩnh lặng đến mức nghe rõ tiếng kim đồng hồ. Tôi nhìn ra cửa sổ, khu dân cư vắng hoe, không một bóng người, không tiếng trẻ đá bóng, không tiếng hàng xóm gọi nhau. Nỗi cô đơn khổng lồ đổ ập xuống. Tôi nhận ra khoảng cách giữa tôi và gia đình con trai không chỉ là mười mấy ngàn cây số, mà là một hố sâu văn hóa.
Vài ngày sau, tôi mong được gần gũi thằng Ken, đứa cháu nội tôi thương nhớ. Một chiều thứ bảy, trong nhà chỉ còn tôi và nó. Thằng bé sáu tuổi, ăn mặc đồ hiệu, mắt dán vào iPad. Tôi lôi từ vali ra con tò he Tôn Ngộ Không và kẹo dừa Bến Tre, định ôm nó vào lòng. Nhưng tay tôi vừa chạm tới, nó giật mình lùi lại, bịt mũi, nói tiếng Anh như gió: “Stop! You smell bad! Don’t touch me!” Nó chê tôi hôi. Tôi đứng chết chân, cố gượng cười đưa kẹo ra: “Ông mang kẹo dừa cho con nè, ăn thử đi con.” Đúng lúc đó, con dâu tôi đi shopping về, thấy cảnh liền gạt tay tôi, kéo con về sau lưng, mắng xối xả: “Ba làm gì vậy? Thằng Ken dị ứng đường, cấm ăn kẹo rẻ tiền. Còn cục bột nặn bằng tay không rửa, lỡ nhiễm trùng ai đền? Ba dẹp mấy thứ rác rưởi này đi!” Nó giật bịch kẹo và tò he ném vào thùng rác. Tiếng bộp vang lên, lòng tôi vỡ vụn. Thằng Ken ôm chân mẹ, bập bẹ: “Mẹ ơi, ông hôi dậu, Ken hông thích ông, ông đi ra đi.” Câu nói ngây thơ ấy như dao cứa vào tim. Tôi cay đắng nhận ra mình đã mất đứa cháu này từ khi nó chào đời trên đất Mỹ. Nó có dòng máu tôi nhưng tâm hồn nó, văn hóa nó, ngôn ngữ nó đều không còn thuộc về tôi.
Những ngày sau, tôi sống như bóng ma trong nhà. Điều tồi tệ nhất là cái bao tử. Cả đời quen ăn cơm nóng, thịt kho, canh chua cá lóc, giờ phải nhai rau trộn giấm, bít tết tái, bánh mì khô. Con dâu không bao giờ nấu cơm Việt. Thằng Hoàng thương ba thì lén mua mì tôm giấu trong phòng. Nhưng ăn mì hoài xót ruột, táo bón hành hạ. Sáng thứ năm, tôi đói quá, định tự nấu ăn. Tôi lấy thịt và trứng trong tủ lạnh, nhưng bếp từ kiểu Mỹ không có núm vặn, chỉ có mặt kính đen với nút cảm ứng. Tôi ấn bừa, đổ dầu vào chảo, không biết mình vô tình bật nhiệt độ cao nhất. Chảo bốc khói đen mù mịt. Tôi hoảng quá, đổ thịt vào, dầu bắn tung tóe, lửa phực lên. Hệ thống báo cháy rú lên điếc tai, đèn đỏ chớp loạn. Tôi sợ điếng, dùng tay không chộp lấy quai chảo nóng như than, giật nảy người, chảo rơi xuống sàn, dầu mỡ văng tứ tung, mặt đá thạch anh nứt một đường dài. Tôi ngã bệt xuống sàn tay bỏng rát.
Đúng lúc đó, con dâu chạy về, mặt đỏ phừng, lao vào Quát :………………….
Con dâu tôi vừa lao vào đã quát ầm lên:
“Ba làm cái gì vậy? Ba có biết cái mặt đá này thay hết mấy ngàn đô không? Cả cái bếp cũng suýt cháy, lỡ cháy nhà thì sao?”
Tôi ngồi bệt dưới sàn, bàn tay đỏ rực vì bỏng, chỉ lí nhí: “Ba đói quá… ba chỉ muốn chiên quả trứng.”
Nó không hỏi tay tôi có đau không. Việc đầu tiên là lấy điện thoại chụp cái bếp rồi gọi cho Hoàng.
Chưa đầy nửa tiếng sau, con trai tôi chạy về. Nó nhìn bàn tay bỏng của tôi, vội lấy thuốc bôi rồi khẽ thở dài. Nhưng ánh mắt mệt mỏi của nó khiến tôi hiểu hơn bất cứ lời trách móc nào.
Đêm đó, tôi nằm thao thức. Tôi nhớ căn nhà cũ ở Việt Nam, nhớ tiếng rao buổi sáng, nhớ bát cơm nóng với con cá kho mà vợ tôi từng nấu. Tôi chợt nhận ra mình đã nhầm. Con trai vẫn thương tôi, nhưng cuộc sống của nó đã thuộc về nước Mỹ. Còn tôi, cả đời quen với mảnh đất quê hương, không thể ép mình sống trong một thế giới hoàn toàn xa lạ.
Sáng hôm sau, tôi gọi Hoàng vào phòng.
“Ba muốn về Việt Nam.”
Nó sững người.
“Ba giận tụi con hả?”
Tôi lắc đầu.
“Không. Ba chỉ thấy mình không hợp ở đây. Ba ở lại chỉ làm khổ cả nhà.”
Hoàng cúi đầu rất lâu. Nó nắm lấy bàn tay còn quấn băng của tôi, mắt đỏ hoe.
“Con xin lỗi ba. Con cứ nghĩ đưa ba sang Mỹ là báo hiếu.”
Tôi mỉm cười, vỗ nhẹ vai con.
“Hiếu không phải là đưa ba đến nơi giàu nhất. Hiếu là để ba được sống nơi ba thấy bình yên.”
Một tháng sau, Hoàng tự tay đưa tôi ra sân bay. Lần này, cả Hương và thằng Ken cũng đi cùng.
Trước lúc vào cửa an ninh, Hương bất ngờ cúi đầu.
“Con xin lỗi ba. Con quen cách sống ở đây nên nhiều lúc cư xử không phải.”
Tôi chỉ cười hiền.
“Ba cũng có nhiều cái chưa biết. Thôi coi như ai cũng học được một bài học.”
Thằng Ken rụt rè chạy đến ôm chân tôi. Nó đưa cho tôi một bức tranh vẽ bằng bút màu. Trong tranh có một ông già tóc bạc đang nắm tay một cậu bé dưới gốc dừa. Phía dưới là dòng chữ nguệch ngoạc bằng tiếng Anh: “I love Grandpa.”
Tôi ôm cháu vào lòng. Lần đầu tiên, nó không còn bịt mũi hay né tránh tôi nữa.
Máy bay hạ cánh xuống Việt Nam vào một buổi sáng đầy nắng. Vừa bước ra khỏi sân bay, tôi hít thật sâu mùi không khí quen thuộc. Tiếng người nói cười, tiếng xe cộ, cái nóng hầm hập… tất cả đều khiến lòng tôi nhẹ nhõm.
Về lại căn nhà cũ, tôi tự học nấu cơm, tự giặt quần áo, tự quét sân. Những việc mà trước đây tôi chưa từng làm, giờ lại trở thành niềm vui mỗi ngày. Tôi nhận ra mình vẫn còn có thể sống tự lập dù đã ngoài bảy mươi.
Mỗi tối, Hoàng đều gọi video về. Có hôm Hương còn hỏi tôi cách kho cá, nấu canh chua. Còn Ken thì hí hửng khoe điểm ở trường, bập bẹ vài câu tiếng Việt mà ba nó dạy.
Một năm sau, cả gia đình về Việt Nam ăn Tết.
Bữa cơm đầu tiên, Hương đặt trước mặt tôi một nồi cá kho tộ còn bốc khói.
“Ba ăn thử coi có giống hương vị của má ngày xưa không.”
Tôi gắp một miếng cá, mắt bỗng cay xè.
Không phải vì món ăn ngon hơn.
Mà vì cuối cùng, chúng tôi đã học được cách yêu thương nhau bằng sự thấu hiểu, thay vì bắt nhau phải thay đổi.
Tôi nhìn con trai, con dâu và cháu nội quây quần bên mâm cơm giản dị. Ngoài sân, nắng chiều vàng óng phủ lên hàng cau trước ngõ.
Tôi chợt hiểu, hạnh phúc không nằm ở nước Mỹ hay Việt Nam.
Hạnh phúc là nơi người ta được tôn trọng, được yêu thương và luôn có một mái nhà để trở về.