
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Con gái lấy chồng xa tận miền Nam suốt 19 năm nhưng về nhà đếm trên đầu ngón tay, bố mẹ vì thương nhớ con nên đã lẳng lặng tới thăm, nào ngờ khi mở cửa, họ bật kh/óc khi thấy cảnh tưởng này…
Ở một vùng quê ven sông thơ mộng ngoài Bắc, người dân quanh xóm đã quá quen thuộc với hình ảnh hai ông bà lão tóc bạc phơ chiều chiều lại ngồi bên mái hiên cũ. Đó là vợ chồng ông Lương và bà Cúc. Ánh mắt ông bà lúc nào cũng đăm đắm nhìn về phía con đường đất đỏ đầu làng – nơi có những chuyến xe đường dài chạy qua.
Người con gái út của họ – Mai – theo chồng về làm dâu tận miền Tây Nam Bộ suốt 19 năm qua nhưng về nhà đếm trên đầu ngón tay. Chừng ấy thời gian lăn lộn nơi xứ lạ, cô chỉ mong thường xuyên về nhà, trở về đặt chân lên mảnh đất quê hương.
Những năm đầu mới gạt nước mắt bước chân lên xe hoa, Mai vẫn chăm chỉ gọi điện, gửi những lá thư tay dạt dào nỗi nhớ , thỉnh thoảng 2 năm về lần. Nhưng rồi thời gian trôi qua, những cuộc gọi cứ thưa dần, thưa dần rồi bặt tin hẳn. Bà Cúc nhiều đêm nằm lật qua lật lại, ôm chiếc áo cũ của con gái vào lòng mà nghẹn ngào: – Mấy mươi năm rồi ông ơi… Không biết con Mai giờ sống ra sao, ăn uống thế nào? Liệu có phải nơi xứ lạ quê người, nó bận rộn quá rồi quên mất cái mái nhà xao xác này rồi không?
Ông Lương nén thở dài, tay xoa nhè nhẹ lên bờ vai gầy giuộc của vợ. Lòng ông đau như cắt, nhưng làm cha, ông không cho phép mình trách móc con. Ông hiểu đời làm dâu xa xứ có biết bao nhiêu nỗi niềm không thể gọi tên.
Đến một chiều mùa thu gió rét, nhìn tấm ảnh gia đình đã ngả màu thời gian, ông Lương quyết định đứng dậy nói với vợ: – Bà gói xóm quà quê đi. Mười mấy năm chờ đợi là quá đủ rồi. Chúng ta tự mình vào Nam tìm con. Dù cuộc sống của nó có ra sao, mình cũng phải tận mắt nhìn thấy nó bình an thì mới yên lòng nhắm mắt.
Hành trình xuyên Việt dài nghìn cây số gian nan với hai thân già chưa từng đi đâu xa. Lên xe xuống bến, qua bao nhiêu chặng đường, cuối cùng ông bà cũng cầm được tờ giấy ghi địa chỉ chui vào một con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo ở xóm cù lao. Trước mắt ông bà là một căn nhà lá cũ kỹ, mái xơ xác, tường vách xiêu quẹo theo thời gian.
Tim bà Cúc đập liên hồi trong lồng ngực. Tay bà run run đưa lên gõ nhẹ vào cánh cửa gỗ đã mục nát.
“Lạch cạch…”
Cánh cửa chậm rãi hé mở. Một người phụ nữ bước ra. Nhưng ngay khoảnh khắc nhìn thấy gương mặt và vóc dáng ấy, cả ông Lương lẫn bà Cúc đều đứng khựng lại, toàn thân sững sờ…
Người phụ nữ đứng trước mặt ông bà ăn mặc xềnh xàng, mái tóc xơ xác điểm nhiều sợi bạc, khuôn mặt hằn sâu những vết gờn sóng của sự khắc nghiệt. Đôi bàn tay cô chằng chịt vết sẹo, và điều khiến ông bà bàng hoàng nhất chính là đôi chân của cô: Mai đang phải tựa chặt vào một chiếc nạng gỗ xệch xạc mới có thể đứng vững.
Sự ngỡ ngàng diễn ra trong vài giây ngắn ngủi. Mai ngước mắt lên, nhận ra hai mái đầu bạc quen thuộc trong ký ức. Chiếc nạng gỗ trên tay cô rơi “chát” xuống nền đất. Cô gục xuống, òa khóc nức nở như một đứa trẻ: – Bố… Mẹ… Là bố mẹ thật sao?
Bà Cúc không giữ nổi bình tĩnh, lao đến ôm chằm lấy đứa con gái út vào lòng. Mẹ con ôm nhau khóc nghẹn ngào giữa khoảng sân vắng. Ông Lương quay mặt đi, lén lau giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo.
Vào trong căn nhà trống trơ không có lấy một đồ vật giá trị, sự thật đau lòng suốt 19 năm qua mới dần được hé lộ. Năm năm sau khi kết hôn, biến cố ập đến khi chồng Mai gặp tai nạn trong một lần đi ghe sông rồi qua đời. Không lâu sau đó, một tai nạn lao động tại xưởng gạch cũng đã lấy đi khả năng đi lại bình thường của Mai.
Tật nguyện, một mình nuôi con nhỏ trong nghèo khó, Mai rơi vào cảnh kiệt quệ cả về vật chất lẫn tinh thần. Cô bám trụ lại mảnh đất miền Tây bằng nghề đan may, làm thuê vặt vãnh qua ngày. Có những khoảng thời gian, hai mẹ con phải ăn cơm nguội chấm muối qua bữa.
– Con thương bố mẹ lắm… – Mai nghẹn ngào trong tiếng nấc. – Con nhớ quê, nhớ nhà đến phát cuồng. Nhưng nhìn lại bản thân mình tàn tật, nghèo khổ, con lại không đủ can đảm để quay về. Con sợ làm bố mẹ phải lo lắng, sợ làm gánh nặng cho gia đình, sợ làng xóm dị nghị rằng con gái bố mẹ đi lấy chồng xa mà thân tàn dại dại… Nên con mới cắn răng cắt đứt liên lạc.
Nghe những lời rút ruột rút gan của con, bà Cúc vuốt ve đôi bàn tay chai sần của Mai, nước mắt chảy tràn: – Con dại quá con ơi! Dù con có ra sao, dù con có tàn tật hay nghèo khó thế nào thì con vẫn là máu mủ của bố mẹ. Nhà mình tuy nghèo, nhưng luôn có chỗ cho con trú ngụ. Bố mẹ chưa từng cần con phải giàu sang mới chào đón con trở về!
Ông Lương tiến lại gần, đặt bàn tay to lớn, ấm áp lên vai con gái, giọng ông trầm xuống nhưng vô cùng vững chãi: – Thu dọn đồ đạc đi con. Mười chín năm xa quê là quá đủ rồi. Bố mẹ vào đây không phải để thăm, mà là để đón mẹ con con về nhà. Nơi nào có gia đình, nơi đó mới là nhà.
Căn nhà nhỏ hôm ấy ngập tràn nước mắt, nhưng không còn là nước mắt của sự tủi phận và đau thương, mà là nước mắt của sự đoàn tụ. Mai nhìn ánh mắt chan chứa tình yêu thương vô điều kiện của bố mẹ mà thấy lòng mình như được hồi sinh.
Vài ngày sau, trên chuyến xe khách ngược dòng từ Nam ra Bắc, có một gia đình nhỏ ngồi bên nhau. Mai dựa đầu vào vai mẹ, ngắm nhìn cảnh vật lướt qua cửa kính. Sau 19 năm lưu lạc giữa bão táp cuộc đời, cuối cùng, người con gái xa xứ đã tìm thấy con đường trở về vòng tay ấm áp của gia đình.