Bố vợ 89 tu:;ổi sống cùng 20 năm không góp tiền ăn, ông vừa qu::a đ:ời thì con rể s:ốc nặng khi luật sư tìm đến thông báo chuyện động trời…
Tôi lấy vợ năm 30 t-uổi, hai bàn tay trắng. Nhà vợ tôi lúc đó cũng không khá giả gì, chỉ có mỗi bố vợ – cụ Chiến – đã gần 70 t-uổi, gầy gò, ít nói, sống bằng tiền trợ cấp người có công.
Ngay sau đám cưới, cụ dọn lên sống cùng vợ chồng tôi và ở luôn tới cuối đời. Suốt 20 năm, ông không đóng góp một đồng nào cho tiền điện nước, ăn uống hay thuốc thang. Cũng không trông cháu, không nấu nướng, không dọn dẹp. Có người còn bảo ông là “ă-n bá/m có hạng”.
Tôi từng đôi lần bực, nhưng nghĩ “người già, bố vợ, mình trách thì ai chăm?”, nên cũng nhịn. Nhưng thú thật, trong lòng tôi có nhiều lần ấm ức. Có khi tôi đi làm về mệt, mở tủ lạnh trống trơn, thấy ông vẫn ngồi nhẩn nha uống trà như chẳng dính líu gì.
Rồi một ngày, ông r-a đ-i Sáng hôm đó, vợ tôi nấu cháo mang lên thì phát hiện ông đã không còn th-ở.
Ta;/ng lễ diễn ra đơn giản. Gia đình bên vợ cũng không ai giàu có gì, nên tôi và vợ đứng ra lo hết.
Ba ngày sau, một người đàn ông mặc vest xuất hiện trước cửa — và khiến tôi suýt đánh rơi ly nước trên tay
Ông ấy là luật sư, mang theo một xấp hồ sơ. Sau khi xác minh danh tính tôi, anh ta bất ngờ thông báo…vQuý độc giả xem thêm tại bình luận ![]()
Tiếng gót giày cao gót nện trên sàn đá cẩm thạch của phòng khách lớn vang lên lanh lảnh, cắt đứt bầu không khí đặc quánh sự phẫn nộ.
Bà Đặng Thị Tuyết – người mẹ thông gia đang hưởng trọn cõi tiện nghi tầng hai – hớt hải chạy xuống, vừa thấy cảnh tượng hỗn độn liền tru tréo lên như đỉa phải vôi: – Ơ kìa! Cái thứ đàn bà nhà quê vô phép tắc này! Mày làm đổ cả ly vang đỏ lên chiếc túi Dior của con bé Kiều Tú hả? Mày đui mù hay cố tình phá hoại hả con mụ nhà quê kia? Mấy đời mày đi làm thuê cũng không mua nổi cái quai túi của người ta đâu!
Nhung lúc này đã đứng phắt dậy, mặt cắt không còn một giọt máu, vừa phủi chiếc váy lụa vừa gào lên với chồng: – Anh Kiên! Anh nhìn thấy chưa? Tôi đã bảo rồi, rước cái của nợ này lên thành phố chỉ tổ rước họa vào thân! Ăn nhờ ở đậu không biết điều, phá phơi từ cái ghế da cho đến đồ hiệu của khách quý. Anh chọn đi: một là tống cổ bà ta về quê ngay lập tức, hai là mẹ con tôi dọn ra khách sạn!
Khách khứa xung quanh bắt đầu xì xào bàn tán. Những ánh mắt khinh miệt, chê bai, dò xét chĩa thẳng vào người phụ nữ sáu mươi tám tuổi đang đứng chống tay lên đầu gối, chân phải vẫn còn đang tê dại vì chứng thần kinh tọa.
Nhưng không ai thấy ở bà Cúc một sự sợ hãi hay van xin nào. Trái lại, đôi mắt đục mờ vì sương gió của người thợ may Kiến Xương chợt lóe lên một tia sáng sắc lạnh đến kỳ lạ.
Từ phía góc khuất cầu thang, Kiên – đứa con trai duy nhất mà bà dứt ruột sinh ra, chắt chiu từng giọt mồ hôi nuôi lớn – bước xuống. Mặt hắn tái mét, mồ hôi vã ra như tắm. Hắn không dám nhìn thẳng vào mắt mẹ, chỉ lắp bắp kéo tay vợ: – Thôi… Thôi em à, khách đang nhìn kìa. Mẹ lớn tuổi rồi, chắc vô ý… Mẹ ơi, mẹ mau lên phòng đi cho con nhờ! Cứ ở lỉnh kỉnh dưới này làm gì để vợ con nó mắng…
Nghe đến hai chữ “vợ con nó mắng” phát ra từ chính miệng đứa con trai do mình đứt ruột đẻ đau, trái tim bà Cúc như bị ai bóp nghẹn. Đắng ngắt. Lạnh buốt.
Bà Cúc chậm rãi đứng thẳng người lên. Dù vóc dáng nhỏ thó trong bộ quần áo lanh giản dị, đứng trước một đám người lụa là phấn son, bà lại tỏa ra một thứ uy nghiêm khiến những kẻ đang la ó bỗng chốc phải khựng lại. Bà không thèm nhìn Kiên, ánh mắt bà quét qua từng khuôn mặt trong căn phòng khách rộng lớn, rồi dừng lại ở gương mặt đang vênh lên ngạo mạn của cô con dâu quý hóa.
– Mày bảo ai ăn nhờ ở đậu, hử Nhung? – Giọng bà Cúc không cao, nhưng rõ từng chữ, vang vọng trong không gian tĩnh lặng đến gai người.
Nhung bật cười nhạt, khoanh tay nghếch cằm: – Chứ không phải thế chắc? Cái nhà này, từ viên gạch lát sàn, cái ghế da triệu rưỡi đến dòng tiền tiêu xài hàng tháng, có cọng lông tóc nào là của bà không? Đồ ăn bám! Nếu không nhờ chồng tôi rước lên đây thì giờ này bà đang lúi húi cái xó quê rách nát nào rồi!
Bà Tuyết hùa theo, nhổ một bãi nước bọt lấy lệ rồi xỉa xói: – Đúng loại vô ơn! Ăn cơm nhà mặt phố, ngắm cảnh hồ Tây mà cứ tưởng mình là chủ đất.
Kiên hoảng hốt tiến lên định kéo tay mẹ: – Mẹ! Mẹ đừng nói nữa mà! Mẹ muốn con mất mặt với nhà vợ, muốn con mất hết các mối quan hệ xã hội mới hả dạ sao?
Bà Cúc hất mạnh tay con trai ra. Lực hất không lớn nhưng dứt khoát đến mức Kiên lùi lại hai bước, chết sững. Bà đưa tay vào túi áo lanh, rút ra một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu gắn liền với mảnh vải thô – thứ mà bà luôn áp sát ngực suốt bao năm qua. Rồi từ trong chiếc túi xách vải sờn cũ mang theo người, bà chậm rãi rút ra một tập hồ sơ đỏ thẫm được bọc cẩn thận trong một lớp nilon trong suốt.
Bà không nói hai lời thừa thãi. Bà bước đến chiếc bàn trà kính cường lực giữa phòng khách, nơi bày biện bánh trái đắt tiền của buổi tiệc trà chiều, và đặt bịch hồ sơ xuống.
– Mở ra mà đọc đi. – Bà Cúc thong thả nói, ánh mắt sắc như dao cau nhìn thẳng vào Nhung.
Nhung cau mày, liếc nhìn tập hồ sơ rồi cười khẩy: – Giở trò gì đấy? Sổ hộ nghèo hay đơn khiếu nại đất nông nghiệp dưới quê à? Xin lỗi đi, tôi không có thời gian rảnh để chơi trò…
– Câm miệng lại và mở ra! – Bà Cúc gằn giọng. Một uy lực phát ra từ người đàn bà từng trải qua nửa đời bão tố khiến Nhung giật mình thon thót. Cô ta chần chừ, liếc nhìn chồng rồi với tay giật lấy tập hồ sơ, mở trang đầu tiên ra.
Chỉ lướt qua dòng chữ đầu tiên, đôi mắt của Nhung mở trừng trừng, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang xanh mét. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với tài sản trên đất. Địa chỉ: Số XX, phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội.
Và ở mục “Chủ sở hữu”: Bà TRẦN THỊ CÚC.
– Không… Không thể nào! – Nhung lùi lại, lẩm bẩm như kẻ mất hồn, tờ giấy trên tay run lẩy bẩy rơi xuống tấm thảm trị giá 45 triệu đồng. – Nhà này… Nhà này rõ ràng là… là anh Kiên bảo… là của tụi tôi cơ mà! Là tài sản vợ chồng gây dựng cơ mà!
Bà Tuyết thấy con gái hoảng loạn liền lao đến nhặt tờ giấy lên, đọc xong cũng trố mắt, lắp bắp: – Mày… mày lừa tụi tao à? Giấy tờ giả đúng không? Làm sao một mụ thợ may nhà quê lại có tiền mua nổi căn nhà sáu tầng ở Kim Mã mười mấy tỷ thế này?!
Lúc này, Kiên khuỵu hẳn xuống sàn nhà. Mặt hắn cắt không còn một giọt máu. Hắn bò sườn sượt đến bên chân mẹ, ôm lấy vạt áo lanh, nước mắt giàn giụa: – Mẹ ơi… Mẹ tha lỗi cho con… Con… con giấu vợ vì sợ nó coi thường gia đình mình, sợ nó khinh con lấy vợ nghèo… Con trót nói dối rằng căn nhà này là do tụi con vay mượn và tự mua góp… Mẹ ơi, con sai rồi mẹ ơi!
Cả căn phòng khách chết lặng. Những vị phu nhân quyền quý, những người vừa nãy còn đứng nhìn bà Cúc với ánh mắt khinh miệt, giờ đây che miệng kinh ngạc, lùi ra xa mấy bước khi nhận ra họ đang đứng sủa và khinh bỉ chính là… chủ nhân hợp pháp của toàn bộ căn nhà này. Chị Kiều Tú vội vã nhặt chiếc túi Dior bị dính vết rượu vang lên, mặt ngượng ngùng không biết giấu đi đâu, lủi thủi chào rồi kéo tay bạn bè chuồn thẳng ra cửa. Chỉ trong vòng chưa đầy năm phút, buổi tiệc trà thượng lưu tan hoang như một bãi rác.
Bà Cúc nhìn đứa con trai duy nhất đang quỳ dưới chân mình, khóe môi nhếch lên một nụ cười nhạt nhẽo và đau đớn đến tột cùng.
– Mày giấu vợ vì sợ nó coi thường mày? Còn tao – người đứt ruột đẻ ra mày, bán cả mảnh đất hương hỏa hai trăm năm mươi mét vuông, còng lưng bên máy khâu rách suốt hai mươi sáu năm để gom đủ mười bốn tỷ rưỡi mua cho chúng mày một chỗ chui ra chui vào – thì mày và vợ mày đối xử với tao như thế nào? – Bà Cúc lớn tiếng, giọng nghẹn ngào nhưng tràn ngập sự phẫn nộ. – Đêm nào tao cũng ngủ trên gác xép mái tôn lạnh ngắt, ăn cơm với đĩa muối lạc ở góc bếp, bị mắng là “ăn nhờ ở đậu”, là “cục nợ”, là “nuôi báo cô”! Hóa ra trong chính căn nhà do tao bỏ tiền túi ra mua, tao lại là kẻ ăn mày đi xin từng chút bố thí của chúng mày à?!
– Mẹ ơi… con bất hiếu… con đốn mạt… – Kiên chỉ biết đập đầu xuống thảm khóc lóc.
Nhung lúc này đã hoàn hồn, sự kiêu ngạo bị dẫm đạp biến thành sự hoảng loạn tột độ. Cô ta lao đến, bấu víu lấy tay bà Cúc, giọng ngọt nhạt đổi chiều nhanh hơn lật bánh tráng: – Mẹ… mẹ ơi, con lạy mẹ! Con dại dột, con không biết mẹ là chủ nhà… Con tưởng… con tưởng… Mẹ ơi, dẫu sao con cũng là vợ anh Kiên, là mẹ của con Hân, cháu nội đích tôn của mẹ cơ mà! Mẹ thương tình tụi con, sang tên căn nhà này cho vợ chồng con đi mẹ! Con hứa từ nay sẽ chăm sóc mẹ chu đáo, cơm dâng nước rót, không dám hỗn láo một lời nào nữa đâu mẹ ơi!
Bà Tuyết thấy con gái xuống nước, cũng vội vàng xởi lởi bước ra, cười trừ méo mó: – Đúng đấy bà thông gia ạ! Trẻ con nó dại dột, tuổi trẻ bồng bột lo làm ăn nên lỡ lời xúc phạm. Bà là người lớn, chấp làm gì với chúng nó. Cả nhà đoàn tụ có sao đâu, dù gì nhà này sau này cũng là của thằng Kiên thừa kế mà!
Bà Cúc chậm rãi rút tay mình ra khỏi bàn tay của Nhung. Ánh mắt bà nhìn hai mẹ con họ lạnh lẽo như nhìn những kẻ xa lạ ngoài đường.
– Thừa kế ư? Xin lỗi, tao chưa bao giờ có ý định cho chúng mày căn nhà này. – Bà Cúc từ tốn nói từng từ rõ ràng. – Mười bốn tỷ rưỡi ấy, là mồ hôi nước mắt, là xương máu của tao. Tao đưa cho chúng mày vì thương con, tưởng nó biết chí thú làm ăn, hiếu thảo với mẹ già. Nhưng tao nhầm. Tao nuôi ra một thằng con bất hiếu, vứt bỏ cả ơn sinh thành chỉ để làm nhục mẹ ruột cho vừa lòng vợ.
Bà bước đến bàn trà, cầm lấy tập hồ sơ đỏ thẫm đút lại vào túi, rồi nhìn thẳng vào mặt Nhung: – Còn cô Nhung, cái miệng cô mồm năm miệng mười chê bai tôi “ăn nhờ ở đậu”, chê nhà quê hôi hám, đòi tống cổ tôi về quê. Hôm nay, tôi xin chính thức tuyên bố: Căn nhà này là tài sản riêng hợp pháp của tôi. Tôi cho chúng mày đúng ba ngày để dọn toàn bộ đồ đạc cút khỏi nhà của tao!
Nhung nghe đến đây thì hoảng loạn tột độ, mặt tái mét, bản tính chua ngoa trơ trẽn lập tức trỗi dậy. Cô ta gào lên, chỉ tay thẳng vào mặt bà Cúc: – Bà định làm gì hả?! Bà dám đuổi vợ chồng tôi ra đường à? Mày đừng có mà quá đáng! Tao ở đây bảy năm rồi, căn nhà này đã là tổ ấm của gia đình tao! Bà đừng tưởng có sổ đỏ là muốn làm gì thì làm nhé, tao kiện ra tòa, tao cho xã hội biết bà là loại mẹ chồng độc ác, hành hạ con cháu, cướp nhà của con trai!
– Vợ điên rồi sao? Câm miệng ngay! – Kiên hoảng hốt quát vợ, nhưng đã muộn.
Bà Cúc không hề nao núng. Bà cười lạnh: – Cô cứ kiện đi. Cứ gọi công an, gọi báo chí, gọi cả thiên hạ đến đây mà xem, xem luật pháp bảo vệ chủ nhân hợp pháp đứng tên sổ đỏ, hay bảo vệ một lũ con ăn bám dám đuổi mẹ chồng ra gác xép và chửi mắng là đồ ăn nhờ ở đậu! Cô tưởng tôi già ở quê ra là không biết chữ, không biết pháp luật chắc?
Nói đoạn, bà Cúc quay sang nhìn đứa con trai đang nằm rạp dưới đất, giọng nghẹn ngào nhưng đanh thép: – Thằng Kiên. Mười hai tuổi bố mày mất, tao một nách nuôi mày nên người, chưa bao giờ tao tiếc mày một giọt mồ hôi. Nhưng hôm nay, tình mẫu tử giữa mày và tao đến đây là hết. Tao cho mày ba ngày, không dọn đi, tao sẽ gọi công an phường đến tống cổ chúng mày ra khỏi nhà tao, đồng thời tao sẽ làm đơn từ từ mặt đứa con bất hiếu như mày!
Nói xong, bà Cúc không thèm quay đầu lại một lần nào nữa. Bà xách chiếc túi vải sờn cũ, bước từng bước chắc nịch lên cầu thang gỗ, thẳng tiến lên căn gác xép tầng sáu. Gió từ ô cửa sổ nhỏ thổi lùa vào lồng lộng, mang theo cái lạnh đầu đông của Hà Nội, nhưng lòng bà lúc này lại thấy nhẹ nhõm lạ kỳ. Không còn gánh nặng, không còn sự nhục nhã dằn vặt, không còn cái gọi là “hy sinh vì con” mù quáng.
Ba ngày sau, căn nhà phố Kim Mã trở nên trống hoác.
Nhung và mẹ đẻ của cô ta vừa khóc lóc, vừa thu dọn đống quần áo hàng hiệu, túi xách đắt tiền nhét vào vali, mặt mày tím tái nhục nhã dưới những ánh mắt tò mò của hàng xóm láng giềng. Kiên cúi gằm mặt, xách những thùng carton cuối cùng ra xe tải, không dám ngẩng đầu nhìn lên ô cửa sổ tầng sáu nơi hình bóng người mẹ gầy gò đang đứng lặng nhìn xuống.
Khi cánh cửa cổng sắt đóng sập lại, căn nhà sáu tầng trở lại với vẻ yên tĩnh vốn có của nó.
Bà Cúc bước xuống phòng khách, mở tung tất cả các cánh cửa lớn để ánh nắng mùa đông tràn ngập vào từng ngóc ngách, xua tan đi cái mùi lạnh lẽo, vô trùng và giả tạo suốt bảy năm qua. Bà pha một ấm trà xanh mộc mạc mang từ Thái Bình lên, ngồi nhâm nhi ở chiếc ghế da mà ngày trước con dâu từng bắt bà lau chùi hàng giờ.
Bà thong thả mở cuốn sổ tay sờn gáy ra, lật đến trang cuối cùng. Ở đó, bà cầm bút gạch bỏ dòng cuối cùng về những tủi nhục, đắng cay. Thay vào đó, bà viết một dòng chữ mới thật nắn nót, rõ ràng:“Từ hôm nay, Trần Thị Cúc bắt đầu sống cho chính mình.”
Bà ngước nhìn ra ngoài khung cửa sổ lớn hướng về phía hồ Tây lộng gió, nơi những tia nắng vàng óng ả đang rọi chiếu xuống mặt nước lăn tăn. Cuộc đời thợ may sáu mươi tám tuổi ở Kiến Xương chưa bao giờ thấy lòng mình thênh thang và tự tại đến thế.
