CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
BỐ MẸ NGOÀI 80 TUỔI VẪN PHẢI RA TÒA VÌ CON TRAI KIỆN ĐÒI ĐẤT
Cha tôi năm nay 84 tuổi, mẹ tôi đã bước sang tuổi 82. Cả hai người đều đã già yếu, tóc bạc trắng, mắt kém, chân tay chẳng còn nhanh nhẹn. Vậy mà suốt gần hai năm qua, hai cụ phải sống trong cảnh thấp thỏm, ngày nào cũng sợ một điều: chính những đứa con mình từng nuôi lớn sẽ tìm cách đẩy mình ra khỏi căn nhà đã gắn bó cả đời.
Người ngoài nghe chuyện chắc chẳng thể tin nổi.
Nhưng đó lại là sự thật mà gia đình tôi phải đối mặt.
Cha mẹ tôi có năm người con, ba trai hai gái. Ngày trước, gia đình nghèo đến mức bữa cơm nhiều khi chỉ có rau với cá khô. Cha tôi làm thợ xây, mẹ tôi quanh năm trồng rau, nuôi gà, ai thuê gì làm nấy. Hai người chắt chiu từng đồng để cho các con được ăn học, rồi lần lượt dựng vợ gả chồng.
Đứa nào lập nghiệp cũng được cha mẹ hỗ trợ ít nhiều.
Người thì được cho tiền mua đất.
Người được giúp vốn mở cửa hàng.
Người khó khăn hơn còn được cha mẹ bán cả mảnh ruộng để lấy tiền đưa cho.
Cha mẹ chưa từng tính toán với con cái.
Hai cụ chỉ nghĩ đơn giản rằng: “Con cái nên người, sau này chúng nó có cuộc sống ổn định là cha mẹ mãn nguyện.”
Nhưng đến lúc cha mẹ già yếu, mọi thứ lại hoàn toàn khác.
Tuổi càng cao, bệnh tật càng nhiều. Cha tôi bị đau khớp, huyết áp thất thường, đi lại phải chống gậy. Mẹ tôi mắt đã mờ, nhiều hôm đêm xuống muốn đi vệ sinh cũng phải lần từng bước men theo tường.
Bệnh viện gần như trở thành nơi hai cụ lui tới thường xuyên.
Thế nhưng năm người con, chẳng mấy ai thực sự quan tâm.
Có người gọi điện vài phút rồi viện cớ đang bận.
Có người cả tháng mới về một lần.
Có người thậm chí đến bệnh viện còn hỏi trước:
“Lần này hết bao nhiêu tiền?”
Chứ không hỏi:
“Bố mẹ có đau lắm không?”
Tôi là con gái út, lấy chồng ở gần nên cố gắng chạy qua chạy lại chăm sóc hai cụ. Vợ chồng tôi không khá giả gì, nhưng ít nhất lúc cha mẹ đau ốm vẫn có người bên cạnh.
Tôi cứ nghĩ chỉ cần các anh chị vô tâm một chút cũng chẳng sao.
Miễn cha mẹ còn có chỗ ở, còn được yên ổn những năm cuối đời.
Cho đến một buổi chiều cuối năm.
Năm anh chị em bất ngờ cùng xuất hiện trong nhà.
Ban đầu tôi còn tưởng họ về thăm bố mẹ.
Nhưng khi người anh cả đặt xấp giấy tờ xuống bàn, tôi mới hiểu mục đích thật sự.
Anh ta nói:
“Bố mẹ cũng lớn tuổi rồi. Nhà đất nên tính chuyện chia cho các con từ bây giờ.”
Cha tôi ngẩng lên:
“Chia làm gì?”
Anh hai lập tức tiếp lời:
“Bố mẹ giữ nhiều đất cũng có dùng hết đâu. Sau này rồi cũng để lại cho chúng con.”
Chị thứ ba nói thẳng hơn:
“Giờ bố mẹ già rồi, đứng tên tài sản cũng chẳng giải quyết được gì. Sang tên trước để anh em khỏi tranh chấp.”
Mẹ tôi nghe xong chỉ lặng người.
Tôi không nhịn được:
“Bố mẹ còn sống khỏe mạnh, tại sao các anh chị cứ phải đòi chia tài sản?”
Người anh cả nhìn tôi:
“Em út thì biết gì? Sau này bố mẹ mất, anh em mới là người phải lo chuyện đất đai.”
Tôi bật cười cay đắng.
“Các anh chị đã lo được gì cho bố mẹ trong mấy năm qua?”
Căn phòng im bặt.
Không ai trả lời.
Bởi vì tất cả đều biết tôi nói đúng.
Cha tôi cuối cùng chỉ nói:
“Nhà đất là tài sản của bố mẹ. Khi nào bố mẹ muốn chia thì bố mẹ tự quyết.”
Không ngờ câu nói ấy lại châm ngòi cho một cuộc chiến kéo dài.
Chỉ vài tháng sau, cha mẹ tôi nhận được giấy triệu tập của tòa.
Năm người con cùng đứng đơn yêu cầu chia và sang tên quyền sử dụng đất.
Lý do họ đưa ra là cha mẹ đã cao tuổi, không còn khả năng quản lý tài sản, trong khi con cái có quyền được hưởng phần tài sản của gia đình.
Tôi đọc mà vừa tức vừa đau.
Bố tôi 84 tuổi.
Mẹ tôi 82 tuổi.
Hai người vẫn còn sống, vẫn minh mẫn, vẫn chưa từng tuyên bố cho ai tài sản.
Vậy mà con cái đã nóng lòng chia chác như thể cha mẹ đã qua đời.
Ngày ra tòa, tôi phải dìu mẹ.
Cha chống cây gậy cũ, đi phía trước từng bước khó nhọc.
Khi bước vào phòng xử, tôi nhìn sang phía đối diện.
Năm anh chị em ngồi thành một hàng.
Không ai cúi đầu.
Không ai tỏ vẻ xấu hổ.
Người anh cả còn lạnh lùng nói:
“Bố mẹ già rồi thì tài sản nên giao cho con cái quản lý. Giữ làm gì nữa?”
Một người khác tiếp:
“Chúng tôi cũng là con ruột, chẳng lẽ không có quyền với đất của bố mẹ?”
Mẹ tôi cúi mặt.
Tôi thấy bàn tay bà run lên.
Tôi cứ nghĩ cha mẹ sẽ mềm lòng.
Có thể hai cụ sẽ nói với tòa rằng thôi thì chia cho các con một phần, miễn gia đình đừng kiện tụng nữa.
Nhưng khi thẩm phán hỏi:
“Ông bà có ý kiến gì về yêu cầu của các con không?”
Cha tôi bất ngờ chống tay đứng dậy.
Lưng ông vốn đã còng, vậy mà khoảnh khắc ấy lại thẳng lên.
Ông nhìn từng đứa con.
Ánh mắt không còn là sự yếu đuối của một người cha già mà là nỗi thất vọng sâu đến mức khiến người ta lạnh sống lưng.
Ông chậm rãi nói:
“Tôi sống đến tuổi này, từng nghĩ điều đáng sợ nhất là bệnh tật. Nhưng hôm nay tôi mới hiểu, đau nhất không phải bệnh… mà là bị chính con mình kéo ra tòa để tranh nhà.”
Không ai nói gì.
Cha tôi tiếp tục:
“Căn nhà này là nơi tôi và mẹ chúng nó sống cả đời. Đất này là tiền mồ hôi nước mắt của chúng tôi. Các con không nuôi chúng tôi ngày nào thì đừng nghĩ có quyền bắt chúng tôi giao tài sản khi chúng tôi còn sống.”
Người anh cả đỏ mặt:
“Bố! Chúng con dù sao cũng là con của bố!”
Cha tôi nhìn anh ta thật lâu rồi đáp:
“Con cái mà khiến cha mẹ ngoài tám mươi tuổi phải chống gậy ra tòa vì một mảnh đất… thì chữ ‘con’ ấy còn có ý nghĩa gì nữa?”
Câu nói khiến cả phòng xử lặng ngắt.
Rồi cha tôi mở chiếc cặp da cũ, lấy ra một tập hồ sơ.
Ông đặt lên bàn.
“Còn chuyện này, tôi muốn tòa xem trước khi quyết định.”
Thẩm phán nhận lấy.
Đó là bản di chúc được cha mẹ tôi lập và công chứng từ ba tháng trước.
Tôi cũng chưa từng biết chuyện này.
Các anh chị tôi càng không biết.
Người anh cả lập tức hỏi:
“Bố lập di chúc từ bao giờ?”
Cha tôi không trả lời.
Thẩm phán bắt đầu đọc.
Càng đọc, sắc mặt năm người càng thay đổi.
Bởi toàn bộ căn nhà và phần đất mà họ đang tranh chấp… không được chia đều cho năm người con như họ tưởng.
Cha mẹ tôi đã để lại quyền thừa kế theo một cách hoàn toàn khác.
Một phần tài sản được dành để thanh toán chi phí chữa bệnh và chăm sóc hai cụ khi về già.
Phần còn lại được chia cho những người con có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ, đồng thời ghi rõ người nào từng được cha mẹ hỗ trợ tài sản trước đây sẽ được đối chiếu vào phần thừa kế.
Đặc biệt, trong di chúc có một câu khiến cả năm người chết lặng:
“Người nào khi chúng tôi còn sống đã kiện tụng, ép buộc hoặc tìm cách chiếm đoạt tài sản của cha mẹ thì không được hưởng phần tài sản mà cha mẹ có quyền định đoạt, trừ phần bắt buộc theo quy định pháp luật nếu có.”
Người anh cả đứng bật dậy:
“Không thể nào! Đây là bố mẹ bị ai xúi giục!”
Cha tôi bình thản đáp:
“Không ai xúi giục cả. Là bố tự quyết.”
Anh hai quay sang trách:
“Bố định để hết cho em út phải không?”
Cha tôi lắc đầu.
“Không.”
Ông nhìn sang tôi rồi nói:
“Bố mẹ không thưởng cho đứa nào cả. Bố mẹ chỉ muốn tài sản của mình cuối đời được dùng đúng chỗ.”
Sau đó, cha lấy thêm một tập giấy khác.
Đó là những giấy tờ chứng minh nhiều năm trước, ông đã bán một mảnh đất để hỗ trợ các con.
Người anh cả từng được cho tiền mua nhà.
Anh hai từng được cha mẹ đưa vốn làm ăn.
Chị thứ ba được hỗ trợ một khoản lớn khi lấy chồng.
Người anh thứ tư cũng từng nhận tiền để mua đất.
Tất cả đều có giấy tờ, chứng từ, thậm chí một số khoản còn có chữ ký xác nhận.
Cha tôi nói:
“Các con cứ nói bố mẹ giữ tài sản cho riêng mình. Nhưng các con thử nhìn lại xem, bao nhiêu năm qua bố mẹ đã cho các con những gì?”
Không ai đáp.
Lần đầu tiên, năm người con ngồi đối diện cha mẹ mà không thể nói được một câu.
Cuối cùng, tòa xác định yêu cầu của các con về việc buộc cha mẹ sang tên tài sản khi hai cụ còn sống là không có cơ sở để chấp nhận theo cách họ yêu cầu.
Vụ kiện khép lại.
Nhưng điều khiến tôi nhớ mãi không phải là việc cha mẹ giữ được căn nhà.
Mà là ngày chúng tôi trở về, mẹ tôi ngồi trước hiên rất lâu.
Bà nhìn hàng cây do chính tay mình trồng từ mấy chục năm trước rồi khẽ nói:
“Cha mẹ không cần con cái trả lại những gì đã cho. Chỉ mong lúc cha mẹ còn sống, chúng nó đừng xem cha mẹ như một món tài sản.”
Cha tôi ngồi bên cạnh, im lặng rất lâu.
Sau cùng ông bảo:
“Nhà có thể bán. Đất có thể mất. Tiền rồi cũng hết. Nhưng tình nghĩa mà mất thì có lấy cả núi vàng cũng chẳng mua lại được.”
Vài tháng sau, hai cụ chuyển một phần tài sản thành tiền gửi để lo tuổi già. Phần nhà đất còn lại vẫn giữ nguyên.
Còn năm người con?
Có người sau đó đến xin lỗi.
Có người vẫn cho rằng cha mẹ quá cứng rắn.
Nhưng cha tôi không trách ai nữa.
Ông chỉ nói một câu:
“Bố mẹ già rồi, không còn sống được bao lâu. Từ giờ, ai thật lòng thương bố mẹ thì cứ đến. Không cần mang tiền, cũng chẳng cần mang quà.”
“Chỉ cần đến với tư cách một đứa con.”
Tôi nghe mà cay mắt.
Bởi đến cuối cùng, thứ cha mẹ cần nhất chẳng phải sổ đỏ, chẳng phải tiền bạc.
Mà là một tiếng hỏi han khi họ đau.
Một bữa cơm có đủ con cháu.
Và cảm giác rằng sau cả một đời hy sinh, mình vẫn được chính những người mình sinh ra coi là cha mẹ, chứ không phải là người đang giữ một mảnh đất mà họ nóng lòng muốn chia.