Người mẹ chồng c-ay ngh-iệt đ-uổi nàng dâu mới cưới ra khỏi nhà khi chồng cô vừa qua đời, rêu rao cô là người “kh-ắc chồng”. Cô dâu ôm h-ận bỏ xứ mà đi, sau này trở thành bà chủ chuỗi cửa hàng nông sản. Ngày trở về tìm lại mộ chồng, cô thấy cảnh khiến t-im mình như th-ắt lại…
Mưa rây bột trên những cánh đồng chiêm trũng, nhuộm một màu xám xịt lên ngôi làng nhỏ vốn dĩ đã trầm mặc. Trong căn nhà ngói ba gian sực nức mùi nhang khói, tiếng khóc nghẹn ngào của Xuân bị c-ắt ngang bởi giọng nói s-ắc l-ẹm như d-ao cạo của bà Ánh. Chồng Xuân – anh Thành – vừa nằm xuống chưa đầy bốn mươi chín ngày sau một t-ai n-ạn đột ngột, nỗi đ-au m-ất mát chưa kịp nguôi ngoai thì giông bão khác đã ập đến. Bà Ánh ném cái túi vải gai đựng vài bộ quần áo cũ ra sân, đôi mắt bà quắc lên, hằn học nhìn đứa con dâu đang quỳ dưới chân mình. Bà gào lên cho cả xóm giềng nghe thấy rằng Xuân là hạng đàn bà “cao số”, là kẻ “kh-ắc chồng” khiến con trai bà phải b-ỏ mạ-ng khi tóc còn xanh. Những lời th-óa m-ạ c-ay nghiệt ấy như những nh-át d-ao đ-âm n-át trái tim vốn đã r-ỉ m-áu của Xuân. Bà đuổi cô đi ngay trong đêm, không cho phép cô mang theo bất cứ kỷ vật nào của Thành, ngoại trừ chiếc trâm bạc rẻ tiền – sính lễ ngày cưới. Xuân ôm lấy túi quần áo, lảo đảo bước ra khỏi cổng làng giữa cơn mưa tầm tã, lòng mang theo nỗi hận thù khôn nguôi về người mẹ chồng cạn tàu ráo máng.
Mười lăm năm đằng đẵng trôi qua, thời gian có thể làm mờ đi vết sẹ-o nhưng nỗi nhớ quê hương và ký ức về ngày bị xua đuổi vẫn vẹn nguyên trong tâm trí Xuân. Từ một người đàn bà trắng tay, lang thang nơi đất khách quê người, Xuân đã gây dựng nên một cơ nghiệp khiến nhiều người mơ ước. Bằng sự nhạy bén và ý chí kiên cường, cô trở thành bà chủ của một chuỗi cửa hàng nông sản sạch có tiếng, liên kết với hàng ngàn hộ nông dân để đưa nông sản Việt ra thị trường lớn. Người ta thấy một bà Xuân sang trọng, quyết đoán, nhưng sâu trong đôi mắt ấy luôn phảng phất một nỗi buồn đau đáu. Cô chưa từng lập gia đình mới, trái tim cô dường như đã khép lại kể từ ngày Thành ra đi. Điều duy nhất thôi thúc Xuân trở về chính là tâm nguyện sửa sang lại phần mộ cho chồng và để cho người mẹ chồng năm xưa thấy rằng, đứa con dâu bị bà h-ắt h-ủi nay đã thành đạt đến nhường nào.
Mời các bạn đọc tiếp lại bình luận ![]()
![]()
![]()

CHƯƠNG II: BẢN ÁN CỦA THỜI GIAN
Chiếc xe hơi sang trọng đỗ lại ở đầu làng, Xuân bước xuống, cảm nhận cái không khí ẩm ướt của vùng quê chiêm trũng thấm vào da thịt. Mười lăm năm, ngôi làng đã thay đổi nhiều, nhưng con đường dẫn ra nghĩa trang phía sau chùa vẫn gập ghềnh sỏi đá như thế. Xuân không về nhà ngay. Cô muốn đến bên Thành trước, muốn dùng sự thành đạt này để an ủi linh hồn người chồng đoản mệnh.
Nhưng khi vừa chạm chân đến khu nghĩa trang, Xuân bỗng khựng lại. Trái tim cô như bị một bàn tay vô hình thắt chặt. Trước mắt cô, ngôi mộ của Thành không hề hoang lạnh như cô tưởng tượng. Trái lại, ngôi mộ được ốp đá sạch sẽ, xung quanh không một cọng cỏ dại, trên bia đá vẫn còn bát hương nghi ngút khói và một bó hoa cúc vàng tươi rói.
Phía sau ngôi mộ, một bóng dáng nhỏ bé, gầy gò đang lom khom nhổ từng mẩu cỏ kim. Người đàn bà ấy mặc bộ quần áo nâu sồng vá chằng vá đụp, đôi bàn tay run rẩy, khô héo như nhành củi khô. Đó là bà Ánh.
Người mẹ chồng từng thét ra lửa, từng cay nghiệt đuổi cô đi giữa đêm mưa, giờ đây chỉ còn là một bà lão tàn tạ, lưng còng rạp xuống đất. Bà không hề hay biết có người đang đứng sau lưng mình, bà vừa lau bia mộ vừa lầm bầm:
– “Thành ơi… mẹ xin lỗi. Mẹ già yếu rồi, không biết còn ra thăm con được bao lâu nữa. Cái Xuân nó đi biền biệt, chắc nó hận mẹ lắm. Cũng tại mẹ mù quáng, nghe lời thầy bói nói nhảm rồi trút giận lên đầu nó. Giá mà ngày đó mẹ đừng đuổi nó đi, thì giờ này mẹ con mình đâu có mỗi người một ngả…”
Xuân đứng đó, túi xách hàng hiệu rơi xuống chân. Bao nhiêu oán hận, bao nhiêu ý định quay về để “dằn mặt” người mẹ chồng năm xưa bỗng chốc tan thành mây khói. Thay vào đó là một nỗi xót xa dâng trào.
CHƯƠNG III: SỰ THẬT SAU CÁNH CỔNG CŨ
Xuân l lặng lẽ đi theo bà Ánh về lại ngôi nhà cũ. Ngôi nhà ngói ba gian năm nào giờ đã xập xệ, rêu phong phủ đầy. Trong nhà chẳng có món đồ gì giá trị ngoài tấm ảnh thờ của Thành được lau chùi sạch bóng.
Xuân bước vào, khẽ gọi: “Mẹ…”
Bà Ánh giật mình, chiếc gậy tre trên tay rơi xuống sàn nhà. Bà nheo đôi mắt đục mờ nhìn người đàn bà sang trọng trước mặt. Phải mất một lúc lâu, bà mới run rẩy thốt lên:
– “Xuân… là con thật sao Xuân?”
Bà định bước tới nhưng rồi lại khựng lại, cúi gầm mặt xuống đầy hổ thẹn:
– “Con về rồi à… Mẹ… mẹ không xứng đáng để con gọi một tiếng mẹ đâu. Ngày đó mẹ ác quá, mẹ đẩy con vào đường cùng. Suốt mười lăm năm qua, chưa đêm nào mẹ ngủ yên được.”
Qua lời kể của mấy người hàng xóm, Xuân mới biết sau khi cô đi, bà Ánh bị tai biến một trận thập tử nhất sinh. Bà bán sạch ruộng vườn để lo viện phí, rồi sống lủi thủi bằng tình thương của xóm giềng. Nhưng dù khó khăn đến đâu, hằng tháng bà vẫn dành dụm tiền bán rau, bán trứng để mua nhang khói và sửa sang lại mộ cho Thành. Bà sống chỉ để chờ một ngày được tạ lỗi với Xuân.
CHƯƠNG IV: HÓA GIẢI VÀ TÁI SINH
Nhìn căn bếp lạnh lẽo và bát cơm trắng chỉ có vài miếng dưa muối của bà Ánh, Xuân không kìm được nước mắt. Cô nhận ra rằng, sự trả thù lớn nhất không phải là khiến người khác đau khổ, mà là chứng minh rằng mình vẫn giữ được lòng nhân hậu dù đã đi qua giông bão.
Xuân không xây lại biệt thự to lớn để phô trương. Cô dùng số tiền dự định xây nhà để lập một quỹ hỗ trợ nông dân nghèo tại chính làng quê mình, lấy tên của Thành. Cô cũng thuê người sửa sang lại ngôi nhà cũ, mua sắm đầy đủ tiện nghi và thuê một người giúp việc để chăm sóc bà Ánh lúc tuổi già.
Ngày Xuân chuẩn bị rời đi để tiếp tục công việc kinh doanh, bà Ánh nắm chặt lấy tay cô, đôi bàn tay nhăn nheo run rẩy:
– “Con không hận mẹ nữa sao Xuân?”
Xuân mỉm cười, một nụ cười thanh thản thực sự:
– “Con hận cái nghèo, hận cái khổ đã làm con người ta mờ mắt, chứ con không hận mẹ nữa. Anh Thành ở dưới suối vàng chắc cũng muốn thấy mẹ được an yên.”
Xuân không đưa bà Ánh lên thành phố, vì cô biết bà thuộc về mảnh đất này, nơi có mộ phần của chồng cô. Cô hứa mỗi tháng sẽ về thăm bà một lần.
LỜI KẾT
Chiếc xe hơi lại lăn bánh rời khỏi cổng làng, nhưng lần này trong lòng Xuân không còn nỗi hận thù hay sự u uất. Cô nhìn ra cánh đồng xanh mướt, nơi những sản phẩm nông sản sạch của cô đang bắt đầu được gieo mầm.
Câu chuyện về nàng dâu bị đuổi đi năm nào trở về trả ơn thay vì trả oán đã trở thành một giai thoại đẹp của ngôi làng. Người ta nhận ra rằng: Oán thù chỉ mang lại nỗi đau, nhưng lòng vị tha mới thực sự là liều thuốc chữa lành mọi vết thương và đem lại sự tái sinh cho những tâm hồn lầm lạc.
Phần mộ của Thành từ nay không chỉ có hoa cúc vàng của người mẹ, mà còn có cả hơi ấm tình người của người vợ hiền. Mùa xuân thực sự đã về trên mảnh đất chiêm trúng vốn dĩ đã quá nhiều nỗi đau này.