
Những ngày đầu mới về làm dâu, tôi luôn tự dằn dằn dằn xé rằng mình chưa đủ khéo léo.Đến năm thứ ba, tôi mới hiểu rằng dù mình có chỉn chu đến đâu, bà vẫn sẽ tìm ra lý do để bắt bẻ. Đến Ngày Tôi Về Giỗ Cha ruột của tôi, bà đã làm một việc khiến tôi phải b:àng h:oàng….
Tôi tên Hải, năm nay ba mươi ba tuổi, quê ở miền biển Nghệ An. Tôi về làm vợ Nam năm năm, cùng gom góp thuê căn nhà ba gian nhỏ ở ven ngoại thành Đà Nẵng, sống chung với mẹ chồng. Hằng ngày, tôi nhận may gia công tại nhà với chiếc máy khâu cũ kỹ đặt dưới hiên, tháng kiếm vài ba triệu chắt chiu. Nam mở xưởng sửa chữa xe nhỏ đầu ngõ, thu nhập bữa có bữa không. Mẹ chồng tôi, bà Nhàn, bán rau ngoài chợ chiềng. Bà gầy gộc, tóc búi củ tỏi gọn gàng, ít lời, nhưng mỗi khi lên tiếng lại khiến người khác trăn trở.
“Canh cá nấu kiểu này mà cũng gọi là nấu,” bà từng đẩy bát canh ra giữa mâm. “Nhạt nhẽo. Con gái miền biển mà nêm nếm chẳng đâu vào đâu.”
Tôi lẳng lặng nuốt miếng cơm khô khốc. Nam chỉ cười huề vốn: “Thôi mẹ, cô ấy nấu cho ăn là tốt lắm rồi.”
Những ngày đầu mới về làm dâu, tôi luôn tự dằn dằn dằn xé rằng mình chưa đủ khéo léo. Đến năm thứ ba, tôi mới hiểu rằng dù mình có chỉn chu đến đâu, bà vẫn sẽ tìm ra lý do để bắt bẻ. Chiếc chăn tôi giặt phơi ngoài sân thì bà bảo “phơi cho bụi bám”, chiếc áo tôi thức đêm may biếu bà thì “đường may chưa thẳng”. Nhưng kỳ lạ thay, bà buông lời hà khắc nhưng chưa bao giờ để tôi phải chịu đói. Có bận tôi sốt run người giữa đêm, sáng tỉnh dậy đã thấy tô cháo nóng hổi đặt sẵn trên bàn bếp, còn bà thì đã quẩy gánh ra chợ từ sớm chẳng nói câu nào.
Nam vốn không phải người tệ bạc ngay từ đầu. Anh chỉ dễ nóng nảy, hay gắt gỏng mỗi khi xưởng vắng khách, và thi thoảng lại thốt ra câu “tôi đi làm nuôi cái nhà này”. Tôi nghe lắm rồi thành quen, như tiếng còi xe inh ỏi ngoài đường mỗi sáng.
Cho đến năm ngoái, khi cha tôi phát hiện mắc bệnh hiểm nghèo. Mấy tháng cuối đời ông nằm ở bệnh viện tỉnh, mẹ tôi một tay chăm sóc, tuần nào tôi cũng bắt xe đò về thăm. Nam chỉ tạt qua đúng một lần, ngồi chưa nóng chỗ đã sốt ruột nhìn đồng hồ, bảo xưởng lắm việc rồi dúi vào tay tôi mấy trăm nghìn gọi là “tiền tàu xe”. Tôi cầm lấy, lòng lạnh ngắt.
Hôm ấy, cha tôi nhìn Nam rất lâu. Ông chỉ vào vết sẹo dài nhô lên trên cẳng chân anh, khàn khàn hỏi: “Chỗ đó mỗi khi trái gió trở trời có còn nhức không con?”
Nam ngạc nhiên rồi gãi đầu cười: “Nó là sẹo cũ từ hồi nhỏ bị ngã xe thôi cha, chẳng sao cả.”
Cha tôi gật đầu, quay mặt ra phía cửa sổ nhìn xăm xăm vào khoảng không. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ ông lão nghèo hay lo xa cho người khác.
Đến ngày đưa tang cha, Nam không thể về vì “có khách đặt làm máy gấp, cô ráng chịu khó”. Mẹ chồng tôi thì âm thầm đón xe về một mình. Bà chỉ đứng lặng lẽ nơi cổng hoa, nón lá che khuất nửa mặt, không bước vào thắp hương mà đợi đến khi đoàn người đưa tiễn đi xa mới lặng lẽ quay lưng. Tôi nghĩ bà ngại, vì hai gia đình vốn chưa từng qua lại thân thiết.
Thế nhưng, cứ đến giữa tháng Tám âm lịch hằng năm, bà lại mua ba quả bưởi tươi đặt lên góc bàn thờ nhỏ trong bếp. Nam từng tò mò hỏi: “Mẹ cúng ai vậy?” Bà chỉ đáp gọn lốc: “Cúng người có ơn.” Anh bĩu môi bảo mẹ vẽ chuyện.
Tất cả những chi tiết vụn vặt ấy, tôi đều ghi nhớ. Chỉ là tôi chưa từng chắp nối chúng lại với nhau.
Bốn giờ sáng, tôi thức dậy trước cả tiếng chuông báo thức, nhè nhẹ kéo khóa ba lô. Nam nằm quay lưng vào tường, nhưng tấm lưng cứng đờ tố cáo anh cũng đang trằn trọc.
Bước ra gian bếp, đèn đã thắp sáng tự bao giờ. Mẹ chồng tôi đứng tựa bên bàn, trên gạch là túi xách nhỏ đựng ba quả bưởi được bọc cẩn thận trong tờ báo cũ.
“Mang về cúng cho cha con.”
Tôi ngơ ngác: “Mẹ…?”
“Đi nhanh lên kẻo lỡ chuyến xe.” Bà không nhìn tôi, tay liên tục vuốt lại quai túi. “Bưởi đầu mùa chưa ngọt lắm, nhưng là tấm lòng.”
Cánh cửa phòng ngủ bật mở sầm một tiếng. Nam bước ra, mắt đỏ ngầu: “Mẹ đưa cái gì cho cô ta đấy?”
“Việc của mẹ.”
“Mẹ lại đi bênh vực cô ta à?” Giọng anh gằn xuống đầy tức giận. “Mai khách khứa đến chật nhà, con dâu mẹ định trốn đi đâu?”
Bà Nhàn từ từ quay lại nhìn con trai. Ánh mắt ấy không chứa đựng sự giận dữ, mà là nỗi thất vọng vô bờ bến của một người mẹ nhìn đứa con mình nuôi nấng đang lao xuống vực sâu.
“Thích nói gì thì cứ trút lên đầu mẹ đây này,” bà gạt đi. “Đừng có đụng đến nó.”
Tôi xách túi bưởi bước nhanh ra cổng. Phía sau, tiếng Nam gầm lên: “Bước chân đi thì đừng bao giờ quay lại cái nhà này nữa!”
Tôi bấm bụng bước tiếp, không ngoảnh đầu lại.
Chuyến xe đường dài đưa tôi về đến quê nhà khi trời đã đứng bóng. Con đường làng rợp bóng cây nghèo xơ xác, ba quả bưởi trong túi nặng trĩu đập vào hông theo từng bước chân. Nơi khoảng sân nhỏ, mẹ tôi đã đứng chờ sẵn, mái tóc điểm bạc phơ phất trong gió biển, tay cầm cúng tập nhang chưa châm.
“Sao đi có một mình vậy con?”
“Dạ, anh Nam bận việc xưởng…”
Mẹ không hỏi thêm câu nào. Bà nhìn vào túi bưởi, nhìn sâu vào mắt tôi, rồi thở dài quay bước vào nhà như đã thấu hiểu mọi sự trên đời.
Lễ cúng tròn một năm ngày mất của cha tôi diễn ra đơn sơ. Mâm cơm chỉ vỏn vẹn vài món đạm bạc cha thích lúc thiếu thời. Tôi cẩn thận dâng ba quả bưởi lên bàn thờ. Trong bức ảnh cũ, cha vẫn nở nụ cười hiền hậu như ngày ông còn chèo đò ngang qua sông, suốt mấy mươi năm chưa từng lấy một đồng tiền công của đám trò nhỏ nghèo hiếu học.
Đêm đó, tôi nằm trên chiếc giường tre quen thuộc, nghe tiếng sóng vỗ xa xăm. Màn hình điện thoại liên tục sáng đèn với hàng chục cuộc gọi nỡ từ Nam, kèm theo tin nhắn lạnh lùng: “Muốn ở luôn ngoài đó thì cứ việc.”
Thế nhưng đến nửa đêm, một dòng tin khác lại gửi đến: “Mẹ bỏ nhà đi từ chiều rồi. Cô đã nói gì với mẹ?”
Tôi chồm dậy, cuống cuồng bấm số gọi cho mẹ chồng nhưng chỉ có tiếng chuông kéo dài vô vọng. Sự tủi thân và hoang mang ập đến làm tôi mềm lòng. Ngón tay tôi run run gõ lên màn hình: “Em sẽ về ngay. Em xin lỗi…” Tôi chẳng biết mình sai ở đâu, nhưng thói quen nhẫn nhịn suốt năm năm làm dâu đã ăn sâu vào máu. Đúng lúc ấy, từ phòng bên vang lên tiếng ho hắng ngắt quãng của mẹ. Tôi cắn chặt môi, lặng lẽ xóa từng chữ một.
Sáng hôm sau, khi sương mù còn chưa tan, tiếng chổi quét sân “rào rạt” đã vang lên ngoài cửa. Tôi mở tung cửa bước ra và khựng lại.
Dưới khoảng sân mờ sương, một bóng người gầy gộc, đội chiếc nón lá sụp che nửa mặt, tay đang thoăn thoắt quét gom từng chiếc lá khô.
“Mẹ…?”
Bà Nhàn dừng tay chổi, không ngoảnh mặt lại: “Cho mẹ ở nhờ vài ngày. Đừng hỏi gì cả.”
“Sao mẹ lại ra tận đây…”
“Đừng hỏi nữa, Hải.”
Lần đầu tiên trong suốt năm năm, bà gọi tên tôi một cách dịu dàng, không hề có sự gắt gỏng thường ngày. Mẹ tôi từ trong bếp bước ra, lặng nhìn bà thông gia một hồi lâu rồi nhẹ nhàng cất lời: “Chị vào nhà uống ngụm nước ấm đã.”
Hai người phụ nữ luống tuổi ngồi đối diện nhau bên mâm cơm sáng. Không ai nhắc đến Nam, không ai nhắc đến những chuyện đã qua. Chỉ có tiếng bát đũa khua nhẹ và những ánh mắt trao nhau đầy ẩn ý mà tôi hoàn toàn không thể hiểu nổi.
Suốt năm ngày sau đó, mẹ chồng tôi làm toàn bộ công việc trong nhà mà không chờ ai nhờ vả. Bà quét dọn ngõ ngách, dùng tro bếp đánh bóng lại chiếc lư đồng trên bàn thờ cha tôi, rồi ra dọn sạch cỏ dại quanh phần mộ ông ngoài đồi. Chiều nào cũng vậy, bà đều lặng lẽ bước vào gian thờ, quỳ rọp trước di ảnh của cha tôi hàng giờ đồng hồ, miệng lầm rầm khấn nguyện điều gì đó. Mỗi khi tôi tiến lại gần, bà lại vội vã lau nước mắt, gạt đi bảo do “khói hương làm cay mắt”.
Điện thoại tôi vẫn nhận tin nhắn từ Nam. Ngày thứ ba: “Mẹ đang ở ngoài đó thật à?”. Ngày thứ năm: “Xưởng đóng cửa mấy hôm nay rồi.” Và đến ngày thứ sáu chỉ vỏn vẹn một từ: “Đợi.”
Chiều hôm thứ bảy, khi hoàng hôn vừa buông xuống, tiếng động cơ xe máy gầm rú rồi phanh gấp ngoài cổng làm chấn động gian nhà nhỏ. Nam bước xộc vào sân, gương mặt hốc hác, râu rậm rạp, bộ quần áo xông nhàu nhĩ bám đầy bụi đường. Anh đã vượt hàng trăm cây số suốt đêm, đôi mắt đỏ ngầu vì kiệt sức.
“Mẹ đâu rồi?”
Chưa kịp để tôi trả lời, anh đã xông thẳng vào gian nhà chính.
Trước bàn thờ cha tôi, bà Nhàn đang quỳ rọp dưới nền gạch, trán chạm sát đất. Mẹ tôi đứng tựa lưng vào mép cửa, đôi mắt buồn rượi.
“Mẹ! Mẹ làm cái gì mà phải quỳ lạy ở nhà người ta thế này?” Nam gào lên, lao đến xóc hai tay định kéo mẹ đứng dậy. “Đứng dậy ngay! Con đưa mẹ về!”
Bà Nhàn bất ngờ giật mạnh tay ra. Lần đầu tiên, tôi thấy ở người phụ nữ gầy yếu ấy một sức mạnh bộc phát dữ dội đến thế.
“Nam,” bà cất giọng run run nhưng đanh thép. “Quỳ xuống!”
“Mẹ…”
“Mẹ bảo mày quỳ xuống! Người trong bức ảnh kia… chính là ân nhân đã cứu mạng mày!”
Lời nói của mẹ chồng tôi như một tia sét đánh ngang tai, khiến cả căn phòng chìm vào khoảng không im lặng đến nghẹt thở. Nam đứng khựng lại, đôi tay đang lơ lửng giữa chừng bỗng run lên bẩy rẩy. Anh nhìn mẹ, rồi lại nhìn lên di ảnh của cha tôi trên bàn thờ.
“Mẹ… mẹ nói cái gì vậy? Ân nhân nào cơ chứ?” Nam lắp ba lắp bắp, gương mặt xám xịt.
Bà Nhàn từ từ đứng dậy, đôi mắt đỏ ngầu đẫm nước mắt. Bà chỉ tay vào vết sẹo dài trên cẳng chân của Nam, giọng nói nghẹn ngào chực vỡ vụn:
“Mày có nhớ năm mày tám tuổi, lúc theo mẹ đi bán rau qua bến đò cũ không? Hôm đó trời mưa lũ lớn, mày sẩy chân ngã xuống dòng nước xiết. Là ai đã không quản nguy hiểm lao xuống dòng nước xoáy vớt mày lên? Là ai đã dùng hết sức tàn đưa mày vào bờ, còn bản thân thì bị đá ngầm đập gãy cả khúc xương chân, từ đó về sau đi đứng khập khiễng?”
Nam sững người. Những ký ức tuổi thơ mơ hồ bỗng nhiên ùa về như một cơn sóng dữ. Anh nhớ về người lái đò hiền lành năm xưa, người đã bế anh lên bờ rồi lặng lẽ bỏ đi không một lời đòi hỏi đền đáp, người mà mẹ anh vẫn luôn khắc ghi trong lòng suốt mấy mươi năm qua nhưng chưa từng tìm lại được.
“Mẹ tìm kiếm người ta suốt mấy mươi năm…” Bà Nhàn nghẹn ngào, chắp hai tay trước ngực. “Đến ngày mày dẫn con Hải về ra mắt, mẹ nghe nó kể về cha nó, người chèo đò ngang bến sông quê, mẹ mới giật mình. Hôm về đám tang ông ấy, đứng từ xa nhìn tấm hình thờ, mẹ mới bàng hoàng nhận ra… Ân nhân cứu sống con trai mẹ cả đời khiêm nhường, đến chết vẫn không hề nhắc lại chuyện cũ.”
Bà quay sang nhìn Nam, giọt nước mắt lăn dài trên gáy vết nhăn nheo:
“Mẹ khắt khe với con Hải, chê bai nó đủ điều, là vì mẹ ích kỷ. Mẹ sợ mày ỷ lại vào tình nghĩa ấy rồi coi thường nó, mẹ sợ phải đối mặt với gia đình ân nhân trong sự mắc nợ quá lớn. Nhưng mẹ đã sai… Mẹ nuôi dạy mày thành một kẻ ngông cuồng, coi thường tình nghĩa, coi thường cả người vợ đã hết lòng vì mày!”
Nam quỵ xuống nền gạch. Chiếc lưng vốn luôn thẳng đứng đầy kiêu ngạo của anh giờ đây cong gập lại. Anh nhìn lên bức ảnh cha tôi — người đàn ông với nụ cười hiền hậu, người đã từng chỉ vào vết sẹo trên chân anh mà hỏi một câu ân cần rốt cuộc có nhức buốt mỗi khi trời trở gió. Cha tôi đã nhận ra anh từ ngày đó, nhưng ông lựa chọn im lặng, lựa chọn không dùng ơn nghĩa năm xưa để trói buộc hay đòi hỏi bất cứ điều gì cho con gái mình.
“Cha…” Nam thốt lên một tiếng nghẹn ngào rồi gục đầu xuống nền nhà, hai vai rung lên bần bật trong tiếng khóc nấc.
Tôi đứng lặng ở góc phòng, từng giọt nước mắt lăn dài trên má. Mọi nút thắt trong lòng suốt năm năm qua như được gỡ bỏ. Những câu chê bai cay nghiệt của mẹ chồng, ba quả bưởi lặng lẽ mỗi mùa thu, và sự nhẫn nại bí ẩn của cha tôi… tất cả đều đã có câu trả lời.
Mẹ tôi bước lại gần, nhẹ nhàng đặt tay lên vai bà Nhàn rồi xoay người đỡ Nam đứng dậy.
“Chuyện cũ đã qua rồi, hai mẹ con đứng lên đi,” mẹ tôi nói, giọng dịu dàng như làn gió biển. “Ông ấy sống trên đời chưa từng mong người khác trả ơn. Ông ấy chỉ mong con cái sống tử tế, biết yêu thương và trân trọng nhau.”
Nam ngước nhìn tôi, đôi mắt đong đầy sự hối hận và cầu xin. Anh bước lại gần, quỳ gối trước mặt tôi, nắm lấy bàn tay chai sần vì dầm mưa quạt nắng của vợ.
“Hải… anh sai rồi. Anh thật sự xin lỗi em…”
Tôi nhìn người đàn ông trước mặt, nhìn người mẹ chồng đang lặng lẽ lau nước mắt bên bàn thờ cha. Những tổn thương trong lòng không thể lành ngay trong một sớm một chiều, nhưng nhìn ánh mắt chân thành của Nam và tấm lòng của mẹ chồng, tôi biết căn nhà nhỏ của chúng tôi từ nay sẽ bắt đầu một chương mới — nơi không còn những lời cay nghiệt, chỉ còn lại sự thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc.