Bốn chiếc xe ô tô đắt tiền lần lượt nối đuôi nhau quẹo vào con đường đất đỏ gập ghềnh của xã Cổ Chiên. Những chiếc bánh xe bóng lộn chà xát lên lớp đất khô, hắt lên những đám bụi mù mạt. Bà con trong xóm đổ ra xem, ai nấy đều xì xầm chỉ trỏ. Người ta nhận ra ngay, đó là bốn đứa con trai nhà ông Mười thợ mộc – những người đã biền biệt hơn mười năm trời mới lại đặt chân về ngôi nhà cối tre, mái lá này.
Trong phòng bệnh vắng vẻ của bệnh viện huyện, ông Mười nằm gầy gộc trên chiếc giường sắt. Thân hình ông teo tóp, gù gập dưới lớp chăn mỏng. Mái tóc bạc phơ như sương rụng, đôi mắt khép hờ, nhịp thở đứt quãng trôi qua lồng ngực gầy giuộc.
Bốn người con trai bước vào, lấp đầy khoảng không gian chật hẹp bằng mùi nước hoa sang trọng và những bộ suit phẳng phiêu.
– Minh – thằng Cả, bước tới đầu tiên. Hắn nhìn chiếc đồng hồ đắt tiền trên cổ tay rồi thở dài nhẹ: “Bác sĩ nói sao rồi? Cha có để lại trăn trối gì không?” – Thành – thằng Hai, đảo mắt quanh gian phòng nhỏ, rồi chép miệng: “Bữa trước tôi dặn cha bán phắt mảnh đất vườn dính liền nhà lá này đi để chia, mà cha cứ khăng khăng giữ lại. Giờ nằm đây rồi thì tính sao?” – Lợi – thằng Ba, tay vội gõ bàn phím điện thoại gởi tin nhắn cho đối tác, giật giọng: “Anh Hai lúc nào cũng đất với đai. Em bỏ công bỏ việc, bay từ nước ngoài về đây đâu phải để nghe chuyện đó.” – Nam – thằng Út, lặng lẽ bước lại gần, nắm lấy bàn tay gầy gộc, chai sần của cha. Bàn tay từng rèn nên biết bao mái nhà cho người ta, giờ đây lạnh ngắt và run rẩy. Nhìn thấy gương mặt hốc hác của ông Mười, trong lòng Nam trỗi lên một nhịp nhói đau thắt lại, nhưng rồi cảm giác tội lỗi ấy mau chóng bị lấn gạt bởi những suy nghĩ thực tế của cuộc sống thành thị.
Giữa lúc bốn anh em đang xầm xè bàn tính chuyện hậu sự và phân chia lại mảnh đất còn dư, đôi mắt ông Mười chậm rãi mở ra. Ánh mắt ông đục ngầu nhưng ấm áp, nhẹ nhàng lướt qua gương mặt từng đứa con – những đứa trẻ năm xưa từng ôm lấy chân ông khóc vạt áo đòi ăn, từng ngồi quanh chiếc bếp than nghe ông đẽo gỗ.
– Các con… về rồi đó à? – Giọng ông Mười thào thào, mỏng như sợi khói.
– Cha! – Nam cất tiếng gọi.
Ông Mười mỉm cười nhẹ, đôi môi khô nứt run run. Ông chậm rãi thò tay vào dưới gối, lấy ra một chiếc chìa khóa đồng đã hoen gỉ cùng một mảnh giấy xếp làm tư.
– Bác sĩ… nói cha không còn nhiều thời gian nữa… – Ông hít một hơi sâu, gom hết chút sức lực cuối cùng – Bốn đứa… nghe cha dặn. Trong căn nhà lá ở quê… dưới gầm giường của cha… có một chiếc thùng gỗ khoá kín. Tất cả gia tài… cả đời cha tích góp… nằm ở trong đó.
Nghe đến hai chữ “gia tài”, ánh mắt của Minh, Thành và Lợi chợt sáng lên. Ngôi nhà lá lụp xụp kia tưởng chừng chẳng có giá trị gì, nhưng từ lâu dân làng đã đồn ông Mười cất giữ một lượng vàng lớn hay đồ cổ vô giá từ những năm làm thợ mộc lừng lẫy.
– Cha… cha trao chìa khóa này cho ai? – Thành nín thở hỏi.
Ông Mười nhìn bốn người con, rồi ánh mắt ông dừng lại, hướng ra phía cửa phòng bệnh.
– Cha… không giao cho ai trong bốn đứa cả… – Ông Mười thốt lên, từng chữ rành rọt – Gia tài đó… cha tuyên bố giao hết cho… chú Út Lượm của các con.
Cả bốn người con ngỡ ngàng, đứng chết lặng.
– Cái gì?! – Minh thốt lên, gương mặt biến sắc – Chú Lượm? Một người dưng nước dã? Một thằng cha tàn tật, mồ côi được cha nhặt về cho ăn nhờ ở đậu mấy năm trước? Cha có bị lẫn không vậy?! – Đúng đó cha! Chúng con là con ruột của cha, mang dòng máu của cha! Sao cha lại đem gia tài giao cho một người bên ngoài? – Thành bất bình gầm lên.
Ông Mười không giải thích thêm. Ông nhắm mắt lại, khóe mắt lăn ra một giọt nước mắt đục ngầu rồi lụi dần vào giấc ngủ sâu. Ba ngày sau, ông Mười qua đời.
Đám tang ông Mười diễn ra lặng lẽ. Dân làng Cổ Chiên đến viếng đông đủ. Người ta khóc thương cho một người già nhân hậu nhưng cô độc đến phút cuối đời. Bốn người con dù đeo băng tang, mặc áo xô, nhưng ánh mắt lúc nào cũng hầm hầm nhìn về phía chiếc thùng gỗ cũ kỹ đặt ở góc nhà lá – nơi chú Lượm đang lặng lẽ quỳ bên linh cữu đốt từng tấp giấy vàng mã.
Chú Lượm là một người đàn ông ngoài 40 tuổi, bị thọt một bên chân, ăn nói khờ khạo. Nhiều năm trước, chú lang bạt đến xã Cổ Chiên, đói rét đến xỉu trước cổng nhà ông Mười. Chính ông Mười đã cưu mang, chia từng bát cơm, chén canh và dạy chú vài nghề mộc đơn giản để tự nuôi sống bản thân. Từ đó, chú Lượm coi ông Mười như cha đẻ, ngày ngày chăm sóc luống rau, nấu ấm nước trà cúng mạ ông, ngó chừng căn nhà lá xiêu vẹo mỗi khi dông bão về.
Sau khi đưa tang ông Mười ra cống táng xong xuôi, bốn người con trai quay trở lại căn nhà lá. Bầu không khí trong gian nhà chật hẹp bỗng trở nên căng thẳng đến ngột ngạt.
Minh bước tới trước mặt chú Lượm, khoanh tay trước ngực, giọng lạnh như tiền: – Chú Lượm! Chuyện ông cụ lẩm cẩm lúc sắp mất nói trao gia tài cho chú, tụi này không chấp nhặt. Nhưng chú nên biết điều. Chúng tôi là con ruột, có quyền thừa kế hợp pháp. Chú mau đưa chiếc chìa khóa và mở cái thùng gỗ đó ra đây!
Chú Lượm ngước đôi mắt hiền lành nhưng kiên định lên nhìn bốn anh em: – Anh Cả… Thầy Mười trước khi mất có dặn em… đúng ngày bãi tang mới được mở thùng trước mặt bốn anh em và chính quyền xã. Em chỉ làm theo lời Thầy dặn thôi.
Lợi đập mạnh tay xuống chiếc bàn gỗ thô ráp: – Lố bịch! Một đống gỗ mục này thì có gia tài gì mà làm màu? Mở ra mau!
Sự việc náo động đến mức Trưởng thôn và đại diện chính quyền xã phải có mặt để chứng kiến. Trước sự có mặt của đông đủ mọi người, chú Lượm run run lấy chiếc chìa khóa đồng từ trong túi áo ra, tra vào chiếc khóa gỉ sét trên chiếc thùng gỗ bọc sắt nặng trịch nằm dưới gầm giường.
“Cạch!”
Chiếc khóa bật ra. Bốn người con trai chen nhau lao lại gần, mắt mở to không chớp. Họ tưởng tượng bên trong sẽ là những thỏi vàng kim quý giá, những tập sổ đỏ đắt tiền, hay những món đồ gỗ quý hiếm trị giá hàng tỷ đồng mà cha mình bí mật cất giữ.
Nắp thùng gỗ từ từ mở ra.
Thế nhưng, đập vào mắt họ không phải là vàng bạc, cũng chẳng phải là tiền tài.
Nằm gọn gàng bên trong thùng gỗ là bốn chiếc hộp nhỏ bằng gỗ xoan đào được chạm khắc vô cùng tinh xảo, bên cạnh một xấp nhật ký cũ kỹ gáy đã sờn rách, và một cuốn sổ tiết kiệm nhỏ.
– Cái quái gì thế này?! – Thành bức xúc văng tục – Vàng đâu? Tiền đâu? Đống đồ bỏ đi này mà gọi là gia tài sao?!
Trưởng thôn bước lại, nhẹ nhàng cầm lá thư nằm trên cùng lên và cất giọng đọc to cho tất cả cùng nghe. Đó là di thư của ông Mười:
“Gửi bốn đứa con trai của cha…
Khi các con đọc được những dòng này, có lẽ cha đã về bên mẹ các con rồi.
Cả đời cha làm nghề thợ mộc, chưa bao giờ tơ hào một đồng không phải của mình. Cha không có vàng bạc, không có đất đai cò bay thẳng cánh để lại cho các con. Gia tài lớn nhất trong cuộc đời cha… chính là bốn đứa con.
Trong chiếc thùng này, có bốn hộp gỗ cha tự tay đẽo gọt cho từng đứa từ khi các con mới lọt lòng. Bên trong mỗi hộp là những kỷ vật thơ ấu của các con: – Hộp của Minh: Là chiếc xe gỗ nhỏ cha đẽo đêm mùa đông năm con 5 tuổi, khi con ước có món đồ chơi giống bạn bè. – Hộp của Thành: Là tập bài kiểm tra điểm 10 đầu tiên của con mà cha ép cẩn thận trong nilon, cùng chiếc bút máy cha phải bán mất hai tải lúa mới mua được. – Hộp của Lợi: Là đôi dép cao su cha cắt ra từ lốp xe cũ để con đi bộ 10 cây số đến trường huyện học. – Hộp của Nam: Là ống nghe y tế bằng gỗ cha tự gọt để con chơi trò làm bác sĩ – giấc mơ mà con từng nói với cha rằng sau này sẽ chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở quê.
Ngoài ra, dưới đáy thùng có một cuốn sổ tiết kiệm 50 triệu đồng. Đây là số tiền chú Lượm đã chắt chiu từ việc làm thuê và tiền cha bán rau củ suốt 10 năm qua tích góp lại. Cha dành số tiền này để nhờ chú Lượm sửa lại mái đình làng và cúng kiếng cho mẹ các con.
Cha giao toàn bộ căn nhà lá này và quyền sử dụng mảnh đất nhỏ này cho chú Lượm. Không phải vì cha không yêu các con, mà vì chú Lượm đã dành cho cha thứ mà các con không thể cho cha suốt 10 năm qua: Đó là SỰ TỰN TỤY VÀ LÒNG HIẾU THẢO.
Các con giàu có về tiền bạc, nhưng các con đã nghèo đi về tình nghĩa. Cha mong sau khi cha đi, các con hãy mở những chiếc hộp gỗ ra, để nhớ lại mình đã từng là những đứa trẻ ngoan như thế nào…”
Lời thư dừng lại. Cả gian nhà lá rơi vào một khoảng không im lặng đến rợn người. Chỉ còn tiếng gió thu rít qua kẽ vách lá xiêu vẹo, lạnh buốt.
Minh run run đưa tay mở chiếc hộp gỗ ghi tên mình. Bên trong, chiếc xe gỗ nhỏ năm nào đã lên nước bóng ngà, bọc cẩn thận trong lớp vải nhung cũ. Kèm theo đó là những trang nhật ký của ông Mười: “Ngày… tháng… năm… Hôm nay thằng Cả sốt cao. Mưa bão không bắt được xe, mình phải cõng nó chạy bộ 15 cây số lên viện tỉnh. Chân mình đạp phải mảnh thủy tinh đau nhói, nhưng thấy con hạ sốt, lòng vui khôn tả…”
Thành mở chiếc hộp của mình, rơi ra là những tấm giấy khen đã hoen màu thời gian và trang nhật ký: “Ngày… tháng… năm… Thằng Hai đậu đại học. Mình mừng đến rơi nước mắt. Bán đi hai con heo duy nhất trong nhà vẫn không đủ tiền đóng học phí. Đêm nay mình nhận đẽo thêm 50 cái cột nhà cho người ta, thức trắng đêm dưới đèn dầu, tay chảy máu nhưng lòng thanh thản…”
Nam quỳ gục xuống nền đất lạnh, ôm lấy chiếc ống nghe bằng gỗ thô sơ vào lòng. Hắn nhớ lại lời hứa năm 10 tuổi: “Sau này con làm bác sĩ, con sẽ chữa bệnh cho cha mẹ suốt đời, không lấy tiền đâu!”. Vậy mà khi thành danh, mở phòng khám lớn, hắn lại tiếc từng ngày công, từng giờ nghỉ để về thăm người cha già đổ bệnh trong gian nhà dột nát.
Những giọt nước mắt muộn màng bắt đầu rơi. Bốn người con trai gục đầu bên chiếc thùng gỗ cũ kỹ, khóc nấc lên như những đứa trẻ. Họ nhận ra, đống “gia tài” mà họ khao khát tìm kiếm bấy lâu nay không nằm ở bất động sản, vàng bạc hay quyền lực, mà nó đã bị họ nhẫn tâm vứt bỏ suốt mười mấy năm qua: Đó là TÌNH MẪU TỬ, TÌNH PHỤ TỬ vô bờ bến.
Chú Lượm bước lại gần, nhẹ nhàng đặt tay lên vai Nam, giọng khờ khạo nhưng ấm áp: – Các anh đừng khóc nữa… Thầy Mười trước khi nhắm mắt vẫn cười… Thầy nói Thầy không trách các anh đâu. Thầy chỉ mong các anh sống tốt, biết yêu thương nhau…
Nhiều năm sau, ngôi nhà lá cũ ở xã Cổ Chiên không còn xiêu vẹo nữa. Nó được dựng lại thành một ngôi nhà gỗ ba gian chắc chắn nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc thô sơ, giản dị ngày nào. Mảnh đất ấy giờ đây trở thành một gian nhà thờ họ và là điểm dừng chân của những chuyến xe từ thành phố trở về mỗi cuối tuần.
Bốn anh em Minh, Thành, Lợi, Nam không còn tranh giành đất đai hay mải mê đuổi theo những phù hoa lợi lộc. Họ góp tiền cùng chú Lượm lập nên một quỹ từ thiện mang tên “Bàn Tay Thợ Mộc” để giúp đỡ những người già cô đơn và trẻ em hiếu học trong vùng.
Mỗi chiều cuối tuần, người ta lại thấy bốn người con trai cùng chú Lượm ngồi bên hiên nhà gỗ, bên ấm trà xanh bốc khói, nhìn ra luống rau xanh mướt. Trong gian thờ ấm cúng, chiếc thùng gỗ cũ kỹ năm xưa vẫn nằm ở vị trí trang trọng nhất, nhắc nhở họ về một gia tài vô giá mà người cha già đã để lại – gia tài của TÌNH YÊU THƯƠNG VÀ LÒNG BIẾT ƠN.
