
Chương 1: Bản Kê Khai Nước Mắt Và Cuốn Sổ Đỏ Trong Túi Vải
Lời tôi vừa dứt, cả gian phòng khách rộng lớn của căn nhà 6 tầng trên phố Kim Mã rơi vào một khoảng im lặng đến tột cùng. Mùi rượu vang đỏ đắt tiền quyện với mùi nước hoa xa xỉ từ chiếc túi da cá sấu bị vấy bẩn tạo nên một bầu không khí ngột ngạt, tanh nồng.
Nhung sững người mất hai giây. Đôi mắt nó trợn ngược, hàng lông mày xăm đen tỉa tót kỹ càng dựng ngược lên vì kinh ngạc. Nó không ngờ người mẹ chồng sáu mươi tám tuổi, quanh năm chỉ biết co quắp bên chiếc máy may lọc cọc ở cái huyện nghèo Kiến Xương, lại có thể cất giọng rành rọt, lạnh ngắt và thẳng lưng đứng nhìn nó như vậy.
“Bà… bà vừa nói cái gì?” Nhung gầm lên qua kẽ răng, giọng nói thanh thót thường ngày biến thành sự chua chát giận dữ. “Bà làm hỏng túi của chị Tú, gần trăm rưỡi triệu đấy! Bà đền bằng cái gì? Bằng mấy con ngan hôi rình dưới quê hay bằng mấy đồng tiền hưu bèn của bà?”
Chị Kiều Tú – chủ nhân chiếc túi xách đắt tiền – vội vã lấy khăn giấy lụa lau chùi vệt rượu đỏ ngấm vào lớp da mềm. Mặt chị ta sa sầm, đôi mắt ti hí lướt từ bộ quần áo lanh sờn vai của tôi xuống gối chân tôi đang bầm tím vì cú xô ban nãy.
“Thôi Nhung ạ,” Kiều Tú cất giọng nhạt nhẽo, môi trát son đỏ nở nụ cười khẩy đầy mỉa mai. “Người già dưới quê lên, không biết giá trị đồ đạc cũng là lẽ thường. Căn túi này chị mua bên Pháp, coi như hôm nay xui xẻo. Em dọn dẹp lại đi, tụi chị xin phép về trước. Ở lại đây e là làm phiền người nhà em.”
Mấy bà phu nhân trong nhóm trà chiều đồng loạt đứng dậy. Ánh mắt họ nhìn Nhung từ sự ngưỡng mộ ban đầu chuyển sang vẻ ái ngại và châm biếm. Họ xúm lại xoa dịu Kiều Tú, nhưng câu nào thốt ra cũng như gáo nước lạnh dội vào cái sĩ diện ảo tưởng của Nhung. Chúng nó thì thầm với nhau: “Hóa ra nhà giàu sang gì cho cam, sống chung với bà mẹ chồng lếch thếch thế kia…”
Khi tiếng guốc cao gót và cánh cửa gỗ lim dập lại, căn phòng khách chỉ còn lại ba người: Tôi, Nhung và bà Tuyết – mẹ đẻ của Nhung.
Bà Tuyết vắt chân ngũ súng trên chiếc ghế da 115 triệu, ngón tay sơn đỏ quặp lấy ly trà hoa cúc, hất hàm nhìn tôi: “Tôi nói thật cho chị Cúc biết, chị làm mẹ mà chẳng biết thương con. Thằng Kiên nó làm đến chức phó giám đốc công ty truyền thông, vợ nó giao thiệp toàn giới thượng lưu. Chị lên đây không giúp được việc nhà thì thôi, lại còn ra đây làm xấu mặt con dâu. Chị xem, vì chị mà con Nhung nó mất hết bạn bè kìa!”
Nhung lao tới bàn trà, hất văng đĩa bánh ngọt xuống sàn gạch bóng loáng. Bánh kem tươi văng tung tóe lên tấm thảm Ba Tư đắt giá. Nó chỉ thẳng tay vào mặt tôi, giọng quát tháo mất hết chút lễ nghĩa cuối cùng: “Bà cút lên gác ngay! Từ nay đến lúc bà về quê, tôi cấm bà bước chân xuống tầng một! Loại người không biết thân biết phận, dơ dáy làm bẩn cả cái nhà này!”
Tôi đứng yên. Cơn đau thắt lưng từ đĩa đệm thoát vị chạy dọc xuống đùi làm chân phải tôi run lên bần bật. Nhưng đôi mắt tôi không hề chớp. Tôi nhìn đứa con dâu mà bảy năm trước tôi từng đem mâm vàng, tráp bạc đến đón về. Tôi nhìn người mẹ thông gia đang ăn súp bào ngư mỗi tối bằng tiền của tôi.
“Tôi sẽ lên gác,” tôi nói, giọng thong thả đến đáng sợ. “Nhưng cô Nhung này, tiền chiếc túi của bạn cô, tôi sẽ đền đủ. Không thiếu một xu.”
Tôi quay lưng, chậm rãi bám vào tay vịn cầu thang gỗ hương, từng bước từng bước lết lên căn tum ở tầng sáu.
Căn phòng tum rộng mười mét vuông nóng hừng hực vào ban ngày và lạnh ngắt khi đêm xuống. Chiếc giường sắt xếp cót két mỗi khi tôi trở mình. Tôi ngồi xuống mép giường, tay run rẩy lấy từ trong túi áo ra cuốn sổ tay bìa da sờn góc.
Chiếc bút bi nét mực xanh bắt đầu di chuyển trên trang giấy trắng:
-
Ngày 12/10: Tiền xe khách lên Hà Nội: 155.000đ. Con ngan nuôi 6 tháng + 30 quả trứng bị vứt rác.
-
Ngày 15/10: Tiền đóng điện nước tháng này: 6.500.000đ (Nhung cầm không cảm ơn).
-
Ngày 18/10: Cháu Hân chỉ nĩa vào mặt, chê bà hôi. Kiên bảo bưng cơm ra góc bếp ăn.
-
Ngày 22/10: Bà Tuyết chuyển sang phòng Master tầng 2. Tôi bị xô ngã ở phòng khách, bị chửi là ‘đồ ăn nhờ ở đậu’, ‘cục nợ’.
Từng dòng chữ như những chiếc đinh đóng chặt vào tâm trí tôi. Tôi khép cuốn sổ lại. Bàn tay tôi tìm đến chiếc túi vải nhỏ được khâu kín bên trong vạt áo lanh. Chiếc chìa khóa đồng nhỏ nhắn và một tờ giấy gấp tư phẳng phiu nằm êm ái ở đó.
Tờ giấy ấy là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số hiệu CK 892011, mang tên duy nhất một người: Trần Thị Cúc.
Căn nhà 6 tầng tại số mặt đường Kim Mã này, trị giá 14,5 tỷ đồng vào thời điểm mua 7 năm trước, và nay đã vọt lên gần 25 tỷ đồng, chưa từng có một milimet nào thuộc về thằng Kiên hay cô Nhung.
Năm xưa, khi cầm tiền bán 250m² đất mặt đường huyện Kiến Xương lên Hà Nội mua nhà cho con, vị luật sư già – người quen cũ của chồng tôi – đã ghé tai dặn: “Chị Cúc này, cuộc đời không ai biết trước được chữ ngờ. Chị thương con là tốt, nhưng hãy để mình một con đường lùi. Cứ để tên chị trên sổ đỏ. Khi nào chị nhắm mắt xuôi tay, cho chúng nó chưa muộn.”
Lời dặn ấy tôi đã giữ kín suốt bảy năm. Tôi để thằng Kiên đứng tên làm người đại diện trên các hợp đồng điện nước, dịch vụ để nó nở mặt nở mày với bạn bè. Tôi nhẫn nại đóng vai một bà mẹ quê mùa, tềnh đoàng, lên thành phố nương nhờ con cái. Để rồi hôm nay, tôi nhận lại câu nói: “Đã lên ăn nhờ ở đậu thì phải biết ý tứ!”
Mười giờ đêm. Tiếng bước chân nặng nề dừng lại trước cửa phòng tum. Thằng Kiên đẩy cửa bước vào.
Nó nồng nặc mùi rượu, khuôn mặt đỏ gay và ánh mắt tránh né nhìn về phía góc tường. Nó thả người xuống chiếc ghế nhựa duy nhất trong phòng, thở dài một tiếng thượt:
“Mẹ ơi… sao mẹ lại làm thế? Mẹ có biết cái túi của chị Kiều Tú quan trọng thế nào với công việc của Nhung không? Chị ấy là vợ của sếp tổng bên công ty đối tác!”
Tôi ngồi tựa lưng vào vách tường tum, thong thả gấp lại chiếc áo lanh: “Con lên đây để mắng mẹ, hay để đòi tiền đền cái túi?”
Kiên khựng lại. Nó nhíu mày, giọng bực bội: “Con không mắng mẹ. Nhưng mẹ xem, mẹ lên đây châm cứu mà cứ gây chuyện. Vợ con nó đi làm áp lực, mẹ nhịn nó một chút thì nhà cửa yên ấm. Giờ nó đòi con phải bỏ ra 125 triệu để mua lại cái túi đền cho chị Tú, mà tiền công ty con đang kẹt chưa rút ra được. Mẹ… mẹ có tiền tiết kiệm đấy không? Mẹ cho con mượn tạm.”
Tôi ngước mắt nhìn đứa con trai duy nhất mà tôi đã còng lưng suốt hai mươi sáu năm bên máy khâu để nuôi lớn. Ngày xưa, mỗi lần nó sốt, tôi thức trắng đêm quạt cho nó. Ngày nó đỗ đại học, tôi nhịn ăn sáng suốt bốn năm để gửi tiền cho nó trọ học. Bây giờ, đứng trước căn nhà trị giá cả chục tỷ do tôi đánh đổi bằng cả đời miệt mài, nó mò lên tận gác xép để xin tiền mẹ đền chiếc túi cho bạn của vợ.
“Tiền tiết kiệm của mẹ,” tôi cất giọng bình thản, “mẹ đã đưa cho vợ con sáu triệu rưỡi đóng tiền điện tuần trước rồi. Mẹ chỉ còn tiền lương hưu tháng này thôi.”
Kiên gạt phăng tay: “Sáu triệu rưỡi thì giải quyết được việc gì! Mẹ dưới quê còn mảnh đất nhà cổ với vườn cây đấy thôi? Hay mẹ bán bớt một sào đi, đưa tiền đây con xoay sở công việc. Sau này con làm ăn được con trả lại mẹ cả gốc lẫn lãi!”
“Đất ở quê là đất thờ tự dòng họ Bùi,” tôi đáp, ánh mắt sắc như dao. “Mẹ không bán.”
“Mẹ sao mà cổ hủ thế!” Kiên bật đứng dậy, giọng nó bắt đầu nâng gõ ranh giới của sự vô ơn. “Mẹ sống trên này, ở nhà sơn hào hải vị, đi xe ô tô của con, mẹ còn giữ cái mảnh đất ma xúp dưới quê làm cái gì? Mẹ không thương con thì thương ai?”
Tôi nhìn nó, nụ cười nhếch lên trên môi nhưng cay đắng đến nát lòng: “Sơn hào hải vị? Cơm nguội với muối lạc là sơn hào hải vị sao con? Căn tum mái tôn mười mét vuông này là chỗ ở của người làm chủ căn nhà này sao con?”
“Mẹ lại giận dỗi vớ vẩn rồi đấy!” Kiên gạt vội câu nói của tôi ra sau đầu. Nó rút trong túi ra một tờ giấy in sẵn, đặt mạnh xuống chiếc bàn nhựa. “Đây là giấy ủy quyền mảnh đất ở quê. Mẹ ký vào đây cho con, để tuần sau con cắm ngân hàng vay ít vốn. Vợ con nó bảo nếu không giải quyết xong vụ cái túi với chị Tú, nó sẽ dắt cháu Hân về nhà ngoại ở!”
Tôi nhìn tờ giấy ủy quyền. Sự tàn nhẫn và tham lam của vợ chồng nó đã đi đến tận cùng. Chúng nó không chỉ muốn nuốt trọn căn nhà 6 tầng ở Hà Nội, mà còn muốn moi nốt mảnh đất thờ tự cuối cùng của tôi dưới quê.
Tôi không chửi mắng. Tôi lấy chiếc bút bi trên bàn, cầm tờ giấy lên.
“Được,” tôi nói nhẹ nhàng. “Để mẹ suy nghĩ. Chiều mai, mẹ sẽ cho con câu trả lời.”
Kiên tưởng tôi đã xiêu lòng. Mặt nó giãn ra, nụ cười nhẹ nhõm xuất hiện: “Mẹ thế có phải ngoan không. Thôi mẹ ngủ đi, mai con bảo Nhung nấu cho mẹ bát cháo yến.”
Nó quay lưng đi xuống, tiếng bước chân nhẹ nhõm như vừa trút được một gánh nặng. Tôi nhìn theo bóng lưng đứa con trai, lòng lạnh ngắt như băng tuyết mùa đông.
Chương 2: Cuộc Viếng Thăm Của Vị Luật Sư Và Đòn Phản Công Âm Thầm
Sáng hôm sau, sương mù dày đặc bao phủ phố Kim Mã. Căn tum tầng sáu lạnh thấu xương.
Tôi thức dậy từ năm giờ sáng, cẩn thận mặc bộ áo dài nhung màu xanh đen – bộ quần áo đẹp nhất mà tôi chỉ dùng khi đi đám cưới hoặc dự lễ ở làng. Tôi chải lại mái tóc điểm bạc, búi gọn gàng sau gáy.
Tám giờ sáng, tôi bước xuống tầng một.
Trong phòng ăn, Nhung và bà Tuyết đang ngồi thong thả thưởng thức bữa sáng với phở bò tươi giao tận nhà và nước ép hoa quả. Thằng Kiên đã đi làm từ sớm. Cháu Hân đang ngồi xem iPad ở góc sofa.
Thấy tôi mặc áo dài bước xuống, Nhung nhướng mày, giọng mỉa mai: “Ơ kìa, hôm nay bà Cúc đi hội làng đấy à? Mặc áo dài nhung cơ đấy. Bà định đi đâu mà diện thế?”
Tôi không đáp lời Nhung. Tôi đi thẳng ra cửa chính.
Đúng lúc đó, một chiếc ô tô sedan màu đen đỗ lại trước cổng nhà. Từ trên xe, một người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi, ăn mặc lịch lãm trong bộ suit xám, tay cầm chiếc cặp da cao cấp bước xuống. Đi cùng ông là một thanh niên trẻ trung xách theo chiếc vali kỹ thuật số.
Đó chính là Luật sư Nguyễn Văn Hà – Trưởng văn phòng Luật sư Hà & Cộng sự, người bạn nối váy của chồng quá cố của tôi, đồng thời là người đã làm thủ tục pháp lý cho căn nhà này bảy năm trước.
“Anh Hà,” tôi bước ra cửa, cất giọng chào.
“Chào chị Cúc,” Luật sư Hà mỉm cười ấm áp. “Tôi nhận được điện thoại của chị từ đêm qua. Mọi hồ sơ chị yêu cầu, tôi và cậu Nam đây đã chuẩn bị đầy đủ.”
Nhung và bà Tuyết thấy có khách lạ ăn mặc sang trọng bước vào thì vội đứng dậy. Nhung điều chỉnh lại nét mặt, nở nụ cười xã giao quen thuộc của một người phụ nữ thành đạt: “Xin chào chú. Chú tìm ai ạ? Chú là đối tác của anh Kiên nhà cháu ạ?”
Luật sư Hà nhìn Nhung từ đầu đến chân, ánh mắt chuyên nghiệp và lạnh lùng. Ông không bắt tay Nhung mà đi thẳng đến sofa, ngồi xuống.
“Tôi không phải đối tác của anh Kiên,” Luật sư Hà cất giọng dõng dạc. “Tôi là đại diện pháp lý cá nhân của bà Trần Thị Cúc. Hôm nay tôi đến đây theo yêu cầu của thân chủ tôi để thực hiện một số thủ tục liên quan đến quyền sở hữu toàn bộ căn nhà 6 tầng này.”
Hai chữ “toàn bộ” vang lên như một tiếng sét đánh ngang tai Nhung và bà Tuyết.
Nhung bật cười gượng gạo, mặt hơi biến sắc: “Chú nói giỡn hay thật đấy? Căn nhà này là của vợ chồng cháu mua bảy năm trước! Anh Kiên đứng tên quản lý mọi giấy tờ điện nước, dịch vụ ở đây. Bà Cúc chỉ là… là mẹ dưới quê lên ở tạm chữa bệnh thôi!”
“Ở tạm?” Luật sư Hà mỉm cười nhạt. Ông mở chiếc cặp da, rút ra một tập hồ sơ dày cộp được bọc trong bìa nhựa trong suốt, đặt mạnh xuống bàn trà.
“Mời cô Nhung và bà Tuyết xem qua,” Luật sư Hà đẩy tập hồ sơ về phía trước. “Đây là Bản sao công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CK 892011. Người đứng tên chủ sở hữu duy nhất: Bà Trần Thị Cúc.”
“Đây là Hợp đồng chuyển nhượng bất động sản năm 2019, tiền được chuyển trực tiếp từ tài khoản cá nhân của bà Trần Thị Cúc tại Ngân hàng Agribank chi nhánh Kiến Xương sang tài khoản bên bán.”
“Và đây là Văn bản xác nhận tài sản riêng do chính anh Bùi Gia Kiên ký cam kết vào thời điểm mua nhà, khẳng định toàn bộ kinh phí mua căn nhà này là của mẹ ruột cho riêng, vợ chồng anh Kiên chỉ là người ở nhờ và quản lý tài sản giúp bà Cúc.”
Mặt Nhung từ đỏ chuyển sang trắng bệch, rồi tái dại như người sắp chết đuối.
Bà Tuyết giật lấy tập hồ sơ trên bàn, đeo kính lão vào soi từng trang. Tay bà ta run lên bần bật, tờ giấy trên tay rung lên cùm cụp.
“Không… Không thể nào!” Nhung gào lên, lao tới chộp lấy tờ sổ đỏ bản sao. “Anh Kiên nói với tôi căn nhà này là do anh ấy tự mua! Anh ấy nói mẹ dưới quê nghèo rớt mồng mùng, chỉ cho được vài trăm triệu! Làm sao bà ấy có 14 tỷ rưỡi để mua căn nhà này?!”
Tôi bước lại gần bàn trà, thong thả ngồi xuống chiếc ghế da 115 triệu – chiếc ghế mà ngày hôm qua tôi trót ngồi nhầm và bị nó lau chùi như lau dịch bệnh.
“Cô Nhung,” tôi nhìn thẳng vào mắt đứa con dâu. “14 tỷ rưỡi đó là tiền tôi bán 250m² đất mặt đường huyện Kiến Xương do ông bà ngoại thằng Kiên để lại, cộng với 26 năm tôi còng lưng bên bàn máy khâu chắt chiu từng đồng lẻ. Tôi giấu việc đứng tên sổ đỏ vì tôi muốn xem, khi không có cái mác chủ nhà, đứa con dâu thành phố như cô đối xử với một bà mẹ quê nghèo khổ như thế nào.”
“Và bảy năm qua,” tôi rút cuốn sổ tay từ trong túi áo ra, đặt lên bàn, “tôi đã có câu trả lời.”
Nhung lùi lại hai bước, lưng đụng phải mép bàn ăn. Sự kiêu kỳ, hợm hĩnh của một cô phu nhân thành phố hoàn toàn sụp đổ. Nó nhìn tôi như nhìn một người xa lạ đầy quyền lực mà nó chưa từng biết đến.
“Bà… bà cố tình gài bẫy tôi?” Nhung lắp bắp, giọng nói run rẩy.
“Tôi không gài bẫy ai,” tôi lạnh lùng đáp. “Là tự cô và mẹ cô nhảy vào cái bẫy của sự tham lam và vô học. Cô coi tôi là đồ ăn nhờ ở đậu. Cô bắt tôi ngủ gác xép mái tôn mười mét vuông. Cô cho con cô chỉ nĩa vào mặt tôi chê hôi. Cô đuổi tôi ra góc bếp ăn cơm với muối lạc. Cô xô ngã tôi trước mặt bạn bè cô…”
“Và hôm nay,” tôi quay sang Luật sư Hà, “tôi muốn thực hiện quyền của một chủ sở hữu hợp pháp.”
Luật sư Hà gật đầu. Ông rút trong cặp ra một thông báo pháp lý bằng văn bản, đọc to từng chữ:
“Theo yêu cầu của bà Trần Thị Cúc, hôm nay, ngày 23 tháng 10 năm 2026, chúng tôi chính thức phát Thông báo yêu cầu di dời tài sản và chấm dứt quyền ở nhờ đối với cô Nguyễn Thị Hồng Nhung và bà Đặng Thị Tuyết.”
“Thời hạn di dời: 72 giờ kể từ 9 giờ sáng hôm nay. Sau thời hạn trên, nếu các cá nhân không tự nguyện di dời, chúng tôi sẽ phối hợp với UBND phường Kim Mã và Công an quận Ba Đình thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.”
Chương 3: Cơn Bão Trong Căn Nhà 25 Tỷ Và Bộ Mặt Thật Của Thằng Con Tới Số
Tiếng thông báo của Luật sư Hà vừa dứt thì tiếng chìa khóa tra vào ổ cửa chính vang lên. Thằng Kiên bước vào nhà.
Nó vừa đi vừa nghe điện thoại, khuôn mặt hớn hở: “Báo cáo sếp, dự án bên em tuần tới là chốt được… Ơ, có chuyện gì mà đông vui thế này?”
Kiên khựng lại khi thấy mẹ nó mặc áo dài nhung ngồi ở ghế chủ nhà, bên cạnh là luật sư và hai người trợ lý trẻ. Trong khi đó, vợ nó – Nhung – đang quỳ gục dưới sàn khóc nấc lên, còn mẹ vợ – bà Tuyết – thì mặt cắt không còn một giọt máu, tay cầm tập hồ sơ run rẩy.
“Mẹ? Nhung? Chuyện gì thế này?” Kiên ngơ ngác hỏi, buông thõng chiếc cặp da xuống đất.
Nhung thấy Kiên về thì như vơ được cọc. Nó lao tới, đấm túi bụi vào ngực chồng, gào lên trong cay đắng: “Bùi Gia Kiên! Đồ lừa đảo! Đồ hèn hạ! Anh bảo căn nhà này anh mua cho tôi? Anh bảo mẹ anh dưới quê nghèo khổ ăn nhờ ở đậu? Hóa ra toàn bộ căn nhà này đứng tên mẹ anh! Bà ấy vừa đưa luật sư đến đuổi tôi và mẹ tôi ra khỏi nhà kìa!”
Kiên tái dại mặt mày. Nó nhìn sang Luật sư Hà, rồi nhìn sang cuốn sổ đỏ bản sao nằm trên bàn. Bí mật mà nó cùng mẹ giấu kín suốt bảy năm qua – bí mật mà nó từng thề sẽ không bao giờ để Nhung biết để giữ cái sĩ diện làm chủ căn nhà 25 tỷ – nay đã bị phơi bày hoàn toàn.
“Mẹ…” Kiên bước lại gần tôi, hai chân nó mềm nhũn, quỳ sụp xuống trước mặt tôi ngay giữa phòng khách. “Mẹ… sao mẹ lại làm thế? Con là con trai duy nhất của mẹ mà! Mẹ đưa luật sư đến đây làm gì? Có chuyện gì mẹ con mình bảo nhau, sao lại làm ầm ĩ lên thế này?!”
Tôi nhìn đứa con trai đang quỳ dưới chân mình. Ngày xưa, mỗi lần nó mắc lỗi, nó cũng quỳ xuống như thế này để xin tôi tha thứ. Nhưng lần này, trong đôi mắt nó không có sự hối hận vì đã đối xử tệ bạc với mẹ, mà chỉ có sự sợ hãi vì sắp mất đi căn nhà sang trọng, mất đi vị thế phó giám đốc đi xe sang, ở nhà 25 tỷ.
“Kiên này,” tôi cất giọng nhẹ nhàng, tay khẽ vuốt lại vạt áo dài. “Đêm qua con lên gác xép tìm mẹ, con bảo mẹ bán nốt mảnh đất nhà cổ dưới quê để đưa tiền cho con đền cái túi xách 125 triệu cho bạn vợ con.”
“Con bảo mẹ sống trên này sơn hào hải vị, đi xe ô tô của con, giữ đất quê làm gì.”
“Hôm nay, mẹ muốn hỏi con một câu: 26 năm mẹ nuôi con, 14 tỷ rưỡi mẹ mua căn nhà này cho con ở, mẹ đã đòi con một đồng nào chưa? Mà con bảo mẹ ăn nhờ ở đậu?”
Kiên gục đầu xuống sàn gạch, hai tay ôm lấy đầu, không thốt nổi một lời.
Nhung lúc này mới bừng tỉnh. Hóa ra từ trước đến nay, kẻ nghèo khổ, kẻ đi ở nhờ thực sự trong căn nhà này lại chính là vợ chồng nó! Tất cả những sự kiêu kỳ, những lần coi thường mẹ chồng, những lần cho con chỉ nĩa chê bà hôi… đều là sự kệch kợm của một kẻ ăn bám trên mồ hôi nước mắt của người khác.
Bà Tuyết – người vừa hôm qua còn vắt chân ngũ súng chê tôi “chẳng biết thương con” – nay lật mặt nhanh như chớp. Bà ta lao tới tát một cái “chát” vào mặt thằng Kiên: “Đồ khốn nạn! Mày lừa con gái tao! Mày bảo mày có nhà 6 tầng Kim Mã tao mới gật đầu cho con Nhung lấy mày! Hóa ra mày là kẻ ăn bám mẹ mày! Con Nhung ơi, thu dọn đồ đạc, đi về nhà với mẹ! Không ở với cái loại lừa đảo này nữa!”
“Mẹ! Mẹ nói cái gì thế?!” Kiên gào lên, quay sang nắm lấy tay Nhung. “Nhung ơi, em nghe anh giải thích! Nhà của mẹ anh thì cũng là nhà của anh! Mẹ anh có mỗi anh là con trai, sau này mẹ chết đi thì nhà này chẳng của anh thì của ai?!”
“Của ai?”
Tôi bật cười. Nụ cười sảng khoái và thanh thản nhất trong suốt bảy năm qua của tôi.
Tôi đứng dậy, chỉnh lại tà áo dài. Luật sư Hà bước lên bên cạnh tôi, tiếp lời:
“Anh Kiên à, anh lại nhầm rồi. Hôm nay, ngoài thông báo di dời 72 giờ, bà Trần Thị Cúc đã chính thức ký văn bản Ủy quyền toàn bộ quyền quản lý, sử dụng và định đoạt bất động sản này cho Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn chi nhánh Hà Nội để làm thủ tục bán đấu giá công khai.”
“Toàn bộ số tiền bán căn nhà này (ước tính khoảng 24,5 tỷ đồng), bà Cúc sẽ trích 10 tỷ đồng để thành lập ‘Quỹ Thợ May Khuyết Tật’ tại huyện Kiến Xương, Thái Bình – nơi bà đã gắn bó cả đời.”
“10 tỷ đồng tiếp theo sẽ được gửi tiết kiệm dài hạn, toàn bộ tiền lãi hàng tháng được chuyển trực tiếp vào tài khoản riêng của cháu Bùi Ngọc Hân để lo cho cháu ăn học đến năm 24 tuổi, với điều kiện khoản tiền này do Ngân hàng giám sát độc quyền, bố mẹ cháu không có quyền can thiệp hay rút tiền.”
“Số tiền còn lại, bà Cúc sẽ dùng để mua một căn hộ chung cư nhỏ 50m² tại thị trấn Kiến Xương để sống những năm tháng tuổi già.”
“Anh Bùi Gia Kiên… không nhận được một đồng nào từ di sản này.”
Chương 4: Cuộc Tháo Chạy Và Sự Thức Tỉnh Muộn Màng
Tin tức căn nhà 6 tầng mặt đường Kim Mã bị bán đấu giá và lệnh di dời 72 giờ lan ra như một cơn địa chấn.
Trong 48 giờ tiếp theo, căn nhà 25 tỷ trở thành một bãi chiến trường của sự tan vỡ và nhục nhã.
Nhung và bà Tuyết điên cuồng thu dọn đồ đạc. Những chiếc túi xách đắt tiền, những bộ quần áo hiệu, những chiếc nệm cao cấp… đều được tống lên các chuyến xe tải chuyển về căn nhà tập thể cũ kỹ 45m² của nhà ngoại ở phố Đội Cấn. Nhung khóc lóc, chửi rủa thằng Kiên không tiếc lời. Sự sụp đổ của cái vỏ bọc “phu nhân nhà giàu” khiến nó phát điên. Bạn bè trong hội trà chiều của nó – bao gồm cả Kiều Tú – sau khi biết chuyện đã lập tức chặn số, xóa tên nó khỏi các nhóm sang chảnh.
Thằng Kiên thì như một kẻ mất hồn. Nó nghỉ việc ở công ty, suốt ngày chui rúc trong phòng uống rượu.
Vào đêm thứ hai trước khi hết hạn di dời, Kiên mò lên căn tum tầng sáu. Căn phòng tum lúc này đã được tôi dọn dẹp sạch sẽ. Chiếc vali quần áo cũ của tôi đặt gọn gàng ở góc phòng.
Kiên quỳ gục trước cửa phòng tum, giọng nói khàn đặc vì rượu và nước mắt: “Mẹ ơi… Con sai rồi… Con thực sự sai rồi mẹ ơi…”
Tôi ngồi trên chiếc giường xếp, ánh mắt nhìn ra cửa sổ, nơi những ngọn đèn đường Kim Mã đang sáng rực: “Con sai ở đâu, Kiên?”
“Con sai vì đã dung túng cho vợ con… Con sai vì đã coi thường mồ hôi nước mắt của mẹ… Con sai vì đã sĩ diện, vô ơn…” Kiên tát liên tiếp vào mặt mình, những tiếng “chát, chát” vang lên khô khốc trong đêm tối. “Mẹ ơi, con xin mẹ, mẹ tha thứ cho con một lần. Mẹ đừng bán nhà, mẹ đừng bỏ con… Con với Nhung ly hôn rồi! Con sẽ đuổi nó đi, con sẽ chăm sóc mẹ suốt đời!”
Tôi thở dài một tiếng. Giọt nước mắt đầu tiên trong suốt những ngày qua lặng lẽ chảy xuống gò má nhăn nheo của tôi.
“Kiên này,” tôi cất giọng dịu dàng, giống như ngày nó còn là một đứa trẻ mười hai tuổi mất bố. “Con sai không phải vì con đuổi mẹ lên gác xép. Con sai vì con đã để đồng tiền và cái danh ảo làm thối rữa bản chất của một con người.”
“Nếu mẹ không có căn nhà 25 tỷ này, nếu mẹ thực sự chỉ là một bà lão nghèo khổ lên ăn nhờ ở đậu, thì suốt đời này con có bao giờ nhận ra con đã đối xử với mẹ thế nào không?”
“Con đuổi mẹ lên tầng sáu vì mẹ bẩn. Vợ con vứt ngan, vứt trứng của mẹ vào thùng rác vì mẹ hôi. Con cho con con chỉ nĩa vào mặt mẹ… Những thứ đó, không có tiền nào rửa sạch được, con ạ.”
“Mẹ bán căn nhà này không phải vì mẹ thù hận con. Mẹ bán nó là để cứu con.”
Kiên ngẩng đầu lên, đôi mắt đỏ ngầu nhìn tôi: “Cứu con?”
“Đúng,” tôi đáp. “Nếu mẹ tiếp tục để con sống trong căn nhà này, con sẽ mãi mãi là một kẻ sống bám, sống ảo tưởng trên lưng mẹ. Con sẽ tiếp tục quỳ lạy trước sự kiêu kỳ vô học của vợ con, con sẽ tiếp tục đi vay nóng để đền cái túi xách cho người ta. Mẹ muốn con phải tự đứng trên hai chân của mình. Số tiền mẹ để lại cho cháu Hân là để đảm bảo tương lai cho con của con. Còn con, con hãy đi làm, tự thuê một căn nhà trọ, tự nấu từng bát cơm mà ăn. Khi nào con hiểu được giá trị của giọt mồ hôi, lúc đó con mới thực sự là một người đàn ông.”
Kiên ngả đầu vào gối tôi, khóc nức nở như một đứa trẻ. Lần này, nước mắt nó là nước mắt của sự thức tỉnh muộn màng.
Chương 5: Bình Minh Ở Kiến Xương
Đúng 9 giờ sáng ngày thứ ba, căn nhà 6 tầng phố Kim Mã được niêm phong hoàn tất dưới sự chứng kiến của Ngân hàng, Luật sư Hà và đại diện chính quyền địa phương.
Nhung và bà Tuyết đã chuyển đi từ chiều hôm trước trong sự nhục nhã, cay đắng.
Thằng Kiên xách một chiếc vali nhỏ – toàn bộ tài sản cá nhân của nó – đứng ở vỉa hè. Nó nhìn căn nhà sang trọng từng là niềm tự hào ảo tưởng của mình bị dán tem niêm phong, rồi nhìn sang mẹ.
Tôi mặc bộ áo lanh giản dị quen thuộc, tay xách chiếc túi vải nhỏ.
“Mẹ,” Kiên bước lại gần, giọng nói đã trở nên trầm lắng và chín chắn hơn. “Con đưa mẹ ra bến xe.”
“Không cần đâu,” tôi mỉm cười. “Luật sư Hà cho người đưa mẹ về rồi. Con giữ lại ít tiền này mà thuê phòng trọ.”
Tôi dúi vào tay Kiên một chiếc phong bì nhỏ – bên trong là năm mươi triệu đồng tiền tiết kiệm từ lương hưu của tôi.
“Mẹ…” Kiên nghẹn ngào, không dám nhận.
“Cầm lấy,” tôi nói đanh thép. “Tiền này là tiền lương hưu của mẹ, không phải tiền bán nhà. Cầm lấy mà làm vốn thuê nhà, tìm việc mới. Chăm sóc cháu Hân cho tốt. Khi nào rảnh, về Kiến Xương thăm mẹ.”
Nói xong, tôi bước lên chiếc xe ô tô của văn phòng luật sư đang chờ sẵn.
Chiếc xe chuyển bánh, lăn đều trên đường phố Hà Nội nhộn nhịp. Qua ô cửa kính, tôi thấy thằng Kiên quỳ sụp xuống vỉa hè phố Kim Mã, gục đầu bái biệt theo bóng chiếc xe đang xa dần.
Hai tiếng sau, chiếc xe đưa tôi về đến huyện Kiến Xương, Thái Bình.
Nắng thu vàng ươm trải dài trên những cánh đồng lúa đang chín tới. Mùi thơm của rơm rạ, mùi đất quê nồng nàn xộc vào cánh mũi khiến lồng ngực tôi mở rộng, hít một hơi thật sâu.
Căn nhà cấp bốn ba gian cổ kính với mảnh vườn xanh mướt của ông bà để lại vẫn nằm yên bình bên bờ kênh. Chiếc máy may Singer cũ kỹ đặt cạnh cửa sổ – nơi tôi đã gắn bó cả đời – vẫn phủ một lớp vải che bụi quen thuộc.
Tôi mở cửa bước vào nhà. Rút chiếc chìa khóa đồng nhỏ trong túi vải ra, tôi cẩn thận cất nó vào chiếc rương gỗ gụ ở đầu giường.
Tiếng chuông điện thoại vang lên. Là giọng nói ấm áp của Luật sư Hà: “Chị Cúc à, thủ tục đấu giá căn nhà Kim Mã đã có người đăng ký mua với giá 26,2 tỷ đồng. Tuần tới, Quỹ Thợ May Khuyết Tật mang tên chị sẽ chính thức được trao giải thưởng cho 50 học viên đầu tiên tại huyện nhà.”
“Cảm ơn anh Hà,” tôi mỉm cười dịu dàng. “Mọi việc nhờ anh lo giúp.”
Tắt máy, tôi bước ra hiên nhà, vơ lấy chiếc kéo và mớ rau muống vừa hái ngoài vườn. Ánh nắng chiều chiếu xuống đôi bàn tay chai sạn của người thợ may già.
Tôi không còn là người phụ nữ bị đuổi lên gác xép, không còn là bà mẹ quê bị coi là “ăn nhờ ở đậu”. Tôi là tôi – Trần Thị Cúc – người đàn bà đã sống một đời thanh thản, tự nắm giữ vận mệnh của mình và biết dừng lại đúng lúc để dạy cho con một bài học sinh tử về lòng nhân đức và giá trị thực sự của gia đình.