
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
Người bạn thanh mai trúc mã r:a đ:ii để lại cho ông bốn người con gái riêng, ông không những không bỏ rơi lũ trẻ mà lại vất vả nuôi 4 người con tới lúc trưởng thành. 20 năm sau, một cái kết bất ngờ đã xảy ra…..
Ngày mẹ qua đời, bầu trời đen thẫm như trút hết nước mắt xuống vùng quê nghèo. Bốn chị em tôi quỳ bên linh cữu, manh áo tang mỏng dính ướt sũng, lạnh ngắt. Mẹ – một người phụ nữ dịu dàng nhưng số phận gian truân – đã ra đi sau cơn bạo bệnh, bỏ lại bốn đứa con gái đang tuổi ăn tuổi lớn. Tôi là Thu, chị cả, khi ấy vừa tròn 15 tuổi. Ba đứa em gái tôi – Lan 13 tuổi, Cúc 10 tuổi và bé Trúc mới lên 6 – cứ ôm chặt lấy tôi mà khóc. Bé Trúc ngước đôi mắt tròn xòe ngơ ngác hỏi: “Chị ơi, từ nay ai sẽ nấu cơm cho chị em mình ăn? Ai sẽ quạt cho mình ngủ?”
Tôi ôm các em vào lòng, nước mắt nghẹn lại nơi cổ họng. Tôi không biết phải trả lời ra sao khi trước mắt chỉ là một khoảng không tăm tối.
Thế rồi, một người đàn ông xuất hiện.
Chú Minh – người trầm lặng đứng ở góc sân suốt mấy ngày tang lễ – là bạn thanh mai trúc mã của mẹ tôi từ thời trẻ. Chú không phải cha ruột của ai trong bốn chị em. Nhưng ngay sau khi lo xong công việc cho mẹ, chú đứng trước mặt họ hàng hai bên và dõng dạc tuyên bố: “Mọi người cứ yên tâm đi làm ăn. Bốn đứa nhỏ, tôi sẽ đứng ra nuôi dưỡng. Tôi xin thề với linh hồn cô ấy sẽ chăm sóc chúng như con đẻ của mình.”
Lời tuyên bố ấy nhận lại không ít sự hoài nghi. Một người đàn ông 35 tuổi, độc thân, chưa từng lập gia đình, lại tự nguyện gánh trên vai bốn đứa trẻ không máu mủ? Người ta ngần ngại, bàn ra tán vào. Nhưng nhìn ánh mắt kiên định và bàn tay run run khi chú nhẹ nhàng lau vết bẩn trên gò má bé Trúc, chính quyền và người thân cuối cùng cũng gật đầu đồng ý.
Những ngày đầu, cuộc sống ở căn nhà nhỏ không hề dễ dàng. Sự e ngại và đề phòng luôn thường trực trong lòng tôi. Là chị cả, lại nghe nhiều lời dị nghị ngoài xã hội, tôi luôn tự dặn mình phải cảnh giác để bảo vệ các em. Nhưng thời gian là câu trả lời đanh thép nhất. Chú Minh không chỉ nói, chú làm tất cả.
Để có đủ tiền lo cho bốn miệng ăn và chi phí học hành, chú nhận làm thêm đủ việc. Sáng sớm chạy xe chở hàng, chiều về lại miệt mài ngoài vườn cây, tối đến lại cặm cụi giặt giũ, nấu nướng. Chú học cách nấu những món ăn mẹ từng nấu, học cách khâu lại nếp áo đơm cúc cho mấy chị em, và kiên nhẫn ngồi giảng từng bài toán khó. Có đêm tôi sốt cao mê man, chú thức trắng lau mát, thay khăn chườm liên tục. Khi tôi tỉnh dậy lúc bình minh, hình ảnh người đàn ông vạm vỡ gục đầu bên cạnh giường, đôi mắt thâm quầng vì kiệt sức đã khắc sâu vào tâm trí tôi. Từ hôm đó, tiếng “ba Minh” cất lên từ miệng chị em tôi tự nhiên và ấm áp đến lạ kỳ.
Năm tháng trôi qua, bốn chị em tôi lớn lên như những đóa hoa rừng tỏa hương ngát hương. Tôi đỗ vào trường Đại học Dược danh giá trên thành phố. Ngày tôi cầm giấy báo nhập học, ba Minh bán đi chiếc xe máy duy nhất – kỷ vật vô giá của ông – để gom đủ tiền nộp học phí cho tôi.
Tôi bước chân lên thành phố, mang theo niềm tự hào và sự biết ơn vô bờ. Hằng tuần tôi đều gọi điện về, cố gắng đi làm thêm để tự trang trải sinh hoạt và gửi một ít về phụ ba lo cho các em. Ở quê, Lan bắt đầu vào cấp ba, Cúc lên lớp 7, còn bé Trúc cũng đã trở thành cô học sinh tiểu học ngoan ngoãn.
Thế nhưng, những gợn sóng ngầm bắt đầu xuất hiện sau năm thứ hai tôi đi học xa.
Mỗi lần nghỉ lễ về quê, tôi bắt đầu nhận thấy những ánh mắt soi moi, những tiếng thì thầm to nhỏ từ xóm giềng. Họ xì xào rằng con Lan dạo này hay mặc đồ đẹp, dùng điện thoại đắt tiền. Họ rỉ tai nhau rằng con Cúc hay được ba Minh chở đi đâu đó vào những buổi tối muộn. Đáng sợ hơn, người ta bắt đầu thêu dệt những câu chuyện khuất tất về mối quan hệ giữa người cha dượng và mấy cô con gái tuổi dậy thì xinh đẹp.
Tôi gạt đi, cho rằng đó chỉ là sự đố kỵ hẹp hòi của những kẻ nhiều chuyện. Ba Minh của chúng tôi tuyệt đối không phải người như thế.
Cho đến một ngày cuối tuần, bé Trúc – lúc này đã 16 tuổi – bất ngờ đón xe khách lên thành phố tìm tôi. Vừa bước vào phòng trọ, đứa em gái út liền gục đầu vào lòng tôi khóc nấc lên. Sau một hồi trấn an, Trúc mới ngẩng mặt nhìn tôi, giọng run rẩy:
“Chị Thu ơi… Em sợ lắm… Mấy tháng nay em thấy ba với chị Lan lạ lắm. Đêm nào ba cũng vào phòng chị Lan lúc khuya muộn, có hôm em còn thấy chị Lan đưa cho ba một xấp tiền rất dày. Còn chị Cúc thì hay giấu đồ gì đó dưới gối… Chị ơi, có phải ba đã đổi khác rồi không?”
Lời nói của đứa em út như một tia sét đánh ngang tai, làm chao đảo toàn bộ niềm tin mà tôi dày công xây dựng suốt nhiều năm qua…
Tim tôi đập liên hồi, ngực đau nhói như có ai đâm thấu. Cả đêm đó tôi không sao chớp mắt. Lời đồn đại của làng xóm cùng thái độ úp úp mở mở của các em khiến sự nghi ngờ trong tôi bùng lên dữ dội. Sáng sớm hôm sau, không báo trước cho ai, tôi đón chuyến xe sớm nhất trở về quê nhà.
Vừa bước qua cánh cổng quen thuộc, căn nhà yên tĩnh đến lạ thường. Tôi nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào. Trong phòng khách, ba Minh đang ngồi trầm ngâm bên bàn trà, gương mặt hốc hác và già đi trông thấy. Nghe tiếng bước chân, ông ngẩng lên, ánh mắt thoáng chút giật mình rồi nhanh chóng lấy lại vẻ bình thản.
“Thu đấy à con? Sao về mà không báo trước để ba đi chợ?” – Ba Minh lên tiếng, giọng khàn đặc.
Tôi không trả lời câu hỏi của ba, ánh mắt nghiêm nghị nhìn thẳng vào ông: “Ba, Lan và Cúc đâu rồi? Em Trúc đã lên tìm con. Con muốn nghe sự thật về những gì đang xảy ra trong ngôi nhà này!”
Không gian rơi vào khoảng lặng ngột ngạt. Ba Minh thở dài một tiếng thật sâu, tay run run rót chén nước trà đã nguội lạnh. Vừa lúc đó, tiếng bước chân từ ngoài cửa vang lên. Lan và Cúc bước vào, trên tay cầm theo một xấp tài liệu và những cuốn sổ tiết kiệm.
Thấy tôi đứng đó với vẻ mặt căng thẳng, Lan vội vàng bước lại gần, ôm lấy tay tôi: “Chị cả! Chị đừng hiểu lầm ba. Mấy tháng nay em và chị Cúc cố tình giấu chị vì không muốn chị bận tâm khi đang kỳ thi tốt nghiệp.”
Tôi nhíu mày, mở xấp tài liệu trên tay Lan ra. Đó là hồ sơ bệnh án từ bệnh viện lớn trên thành phố. Tên người bệnh: Nguyễn Văn Minh. Chẩn đoán: Ung thư gan giai đoạn cuối.
Tờ giấy trên tay tôi rơi xuống đất. Đầu óc tôi quay mòng mòng, chân tay bủn rủn.
Cúc sụt sùi khóc, giải thích từng chút một: “Mấy tháng trước ba đau dữ dội nhưng nhất quyết giấu chị em mình. Khi chị Lan phát hiện ra thì bệnh đã nặng lắm rồi. Ba không chịu đi viện vì sợ tốn tiền học của chị Thu và tiền tương lai của bé Trúc. Chị Lan phải đi làm thêm ban đêm, góp góp từng đồng tiền thưởng học sinh giỏi để ép ba đi khám. Đêm nào ba cũng đau không ngủ được, chị Lan phải thức vào xoa bóp và nhắc ba uống thuốc dằn cơn đau…”
Lan tiếp lời, nước mắt đầm đìa: “Còn cuốn sổ tiết kiệm này, ba đã âm thầm tích lũy suốt 20 năm qua. Mỗi tháng ba đều trích một khoản nhỏ đứng tên bốn chị em mình. Ba giấu dưới gối của Cúc để nhờ Cúc giữ giùm, dặn khi nào ba mất thì chia đều cho bốn chị em làm vốn vào đời…”
Tôi quay sang nhìn ba Minh. Người đàn ông rắn rỏi ngày nào giờ đây gầy gộc, đôi bàn tay chai sạn chắp lại trên đùi, ánh mắt đầy sự áy náy: “Ba xin lỗi… Ba chỉ muốn lo cho các con có cái nghề, cái chữ đàng hoàng để không phải khổ như ba mẹ. Ba sợ mình không còn sống được bao lâu nữa…”
Tôi quỳ gục xuống trước mặt ông, òa khóc nức nở như đứa trẻ 15 tuổi năm nào. Sự nghi ngờ nông nổi, những lời đồn vô căn cứ ngoài xã hội đã làm tổn thương người cha vĩ đại này. Ông đã hy sinh cả tuổi trẻ, gạt bỏ hạnh phúc cá nhân, chịu đựng mọi lời gièm pha ác ý chỉ để chắp cánh cho bốn cô con gái không cùng máu mủ.
20 năm trôi qua kể từ ngày mẹ đi xa. Bốn chị em tôi giờ đây đều đã trưởng thành: Tôi trở thành dược sĩ, Lan chuẩn bị tốt nghiệp đại học sư phạm, Cúc vào đại học kiến trúc và bé Trúc luôn là học sinh giỏi xuất sắc.
Bằng tất cả kiến thức y học và sự chăm sóc tận tụy của bốn đứa con gái, chúng tôi đã cùng ba chiến đấu với bệnh tật, kéo dài sự sống cho ba suốt nhiều năm sau đó. Ngày cưới của từng người trong chúng tôi, người nắm tay dắt từng đứa con gái bước vào lễ đường, trong tiếng pháo hoa và những giọt nước mắt hạnh phúc, không ai khác chính là ba Minh – người cha dượng tuyệt vời nhất trên đời.