
CÂU CHUYỆN HƯ CÂU DO TRÍ TUỆ NHÂN TẠO AI VIẾT, KHÔNG PHẢI CHUYỆN NGOÀI ĐỜI THỰC, CHỈ MANG TÍNH CHẤT GIẢI TRÍ, CHIÊM NGHIỆM
ĐANG THAY BĂNG CHO CỤ ÔNG KHÔNG NGƯỜI THÂN TRONG BỆNH VIỆN, TÔI BÀNG HOÀNG KHI THẤY CỤ NẮM CHẶT TAY MÌNH VÀ GỌI ĐÚNG TÊN MẸ TÔI…
Tôi tên là Thu, năm nay ba mươi tuổi, hiện công tác tại khoa Nội tổng hợp của bệnh viện tỉnh. Tám năm gắn bó với dãy hành lang này, tôi từng chứng kiến không biết bao nhiêu gương mặt đến rồi đi. Phần lớn họ đi qua cuộc đời tôi như những chiếc bóng lướt qua cửa sổ, chẳng giữ lại tên tuổi hay nụ cười. Thế nhưng, cũng có những con người ở lại trong tâm trí tôi rất lâu, tựa như một giai điệu dịu dàng nhưng vang lên dở dang, để lại bao niềm khắc khoải.
Ông lão ở giường bệnh số 18 là một trường hợp như thế.
Ông nhập viện vào một đêm mưa gió mù trời giữa tháng Mười Một. Bác lái xe xe buýt tuyến đường dài phát hiện ông ngồi co quắp dưới mái hiên bến xe, gương mặt nhợt nhạt, bàn chân trái tổn thương nặng không thể tự bước đi, nên đã vội vã hỗ trợ đưa vào cấp cứu. Trên người ông chỉ có một chiếc áo khoác cũ, chiếc ví trống rỗng với vài mảnh tiền lẻ và một cuốn sổ tay nhỏ bọc bìa kiếng cẩn thận. Không một giấy tờ tùy thân, không thông tin liên lạc.
Trích yếu hồ sơ ghi vội: “Bệnh nhân nam, khoảng 76 tuổi, chưa rõ danh tính.” Khi chị điều dưỡng trực ca hỏi tên, ông chỉ thều thào: “Hãy gọi tôi là ông Tư.” Bằng cách đó, cả khoa chúng tôi bắt đầu gọi ông bằng cái tên thân thương ấy.
Do biến chứng tiểu đường lâu năm không được chăm sóc y tế bài bản, bàn chân ông bị tổn thương nghiêm trọng, cần được làm sạch và thay băng chuyên khoa hai lần mỗi ngày. Công việc này do tôi trực tiếp đảm nhận.
Mỗi buổi sáng, khi tôi đẩy xe dụng cụ vào phòng, ông Tư đã thức dậy từ lúc nào. Tóc ông luôn được chải chỉn chu, hai tay để ngay ngắn trên đùi, dáng vẻ điềm tĩnh như một học sinh đang đợi giờ lên lớp. Mỗi khi tôi nhẹ nhàng gỡ bỏ lớp băng, dù thương tổn rất đau nhưng ông chưa một lần cất tiếng than van. Chỉ có những ngón tay gầy gò, nổi đầy gân xanh bấu chặt lấy thành giường đến mức mười đầu ngón tay trắng bệch.
Tôi xót xa hỏi: “Ông ơi, nếu thấy đau ông cứ nói với con nhé.”
Ông lắc đầu, ánh mắt hiền từ đáp lại: “Cảm ơn cháu. Bàn tay cháu nhẹ nhàng lắm, ông không thấy đau đâu.”
Những ngày đầu, vì công việc dồn dập nên tôi không để ý kỹ. Phải đến gần một tuần sau, tôi mới nhận ra một chi tiết khiến lòng mình trùng xuống: Ông Tư hoàn toàn không có người thân bên cạnh.
Ở giường bên trái, bà cụ luôn có con cháu luân phiên túc trực, mang cơm nóng và hoa quả tươi. Ở giường bên phải, một người bệnh khác luôn rộn rã tiếng cười đùa của đứa cháu nhỏ. Còn tại góc giường số 18, trên chiếc tủ nhựa nhỏ chỉ vỏn vẹn một ly nước lọc và cuốn sổ bọc bìa kiếng. Ông không gọi ai, cũng chẳng bao giờ đòi hỏi điều gì. Mỗi chiều muộn, ông lại ngồi lặng lẽ nhìn ra khoảng sân bệnh viện nơi những vòm cây xà cừ trút lá, rồi thi thoảng lại chậm rãi giở từng trang sổ, ngón tay run run lướt qua từng dòng chữ như đang ôn lại những ký ức xa xưa.
Thấy ông cô độc, tôi thường chủ động san sẻ phần suất ăn sáng của mình cho ông. Lúc đầu ông ngại ngùng từ chối, nhưng trước sự tha thiết của tôi, ông cũng nhận lấy, hai tay đón bát cháo ấm nóng. “Cháu đã ăn chưa?” – ông luôn hỏi vậy. “Dạ con ăn rồi, ông cứ yên tâm ăn đi ạ” – tôi mỉm cười dối ngọt. Lương ngành y chẳng mấy dư dả, nhưng nhìn ánh mắt ông, tôi lại nhớ về hình ảnh người mẹ kính yêu của mình ngày trước.
Mẹ tôi là bà Khánh Vân, một thợ may cần mẫn nơi góc chợ nghèo. Bà nuôi tôi khôn lớn bằng tiếng máy may lạch cạch thâu đêm suốt sáng. Năm tôi mười ba tuổi, một căn bệnh tai quái đã cướp mất mẹ, để lại cho tôi gian nhà thuê xiêu vẹo và một cây bút máy đã sờn màu.
Cây bút ấy mang sắc đen tuyền nhưng phần thân đã tróc sơn theo thời gian, trên nắp nắp thép có khắc dòng chữ kỷ niệm tỉ mỉ: “Thân tặng Vân – Lớp 9B – 1988”.
Trong những giây phút cuối đời trên giường bệnh, mẹ nắm chặt tay tôi, thì thào từng tiếng: “Thu à, cuộc đời mẹ có một ân nhân lớn mà cả đời chưa đáp lại được. Đó là thầy Đức, người từng dạy học cho mẹ hồi cấp hai ở ngôi trường làng Tân Phú. Ngày ấy nhà mình túng thiếu, mẹ tưởng phải bỏ học giữa chừng, chính thầy đã đứng ra bảo bọc, đóng tiền học phí cho mẹ. Mẹ chưa kịp đền đáp công ơn ấy. Sau này nếu duyên số cho con gặp lại thầy, hãy thay mẹ cúi đầu cảm ơn thầy thật chân thành nhé.”
Tôi ôm mẹ khóc nức nở và gật đầu hứa nguyện. Suốt mười bảy năm qua, cây bút ấy luôn là vật kỷ niệm vô giá, đi cùng tôi từ những ngày cắp sách đến trường cho đến khi khoác lên mình chiếc áo blouse trắng. Tôi từng cất công tìm kiếm ngôi trường làng năm xưa, nhưng nơi ấy đã giải thể từ lâu, nhân sự cũ đều chuyển đi biệt tích. Lời hứa năm xưa tưởng chừng đành gửi lại cho thời gian.
Chiều thứ Sáu nọ, trong buổi bàn giao ca trực, chị Bích – Trưởng khoa – cầm bản hồ sơ bệnh án bước vào phòng, chất giọng dứt khoát: “Trường hợp giường 18 không có thông tin nhân thân, quá trình điều trị tích cực đã ổn định. Hết tuần này em hoàn thiện hồ sơ để chuyển ông sang trung tâm bảo trợ xã hội nhé.”
Tôi chưa kịp ngập ngừng lên tiếng xin hoãn thì chị đã quay bước đi. Ngoảnh lại, tôi bắt gặp ánh mắt ông Tư đang hướng về phía mình. Ông đã nghe trọn vẹn câu chuyện. Ông chỉ khẽ mỉm cười nhạt nhòa, một nụ cười bao hàm sự chấp nhận và thân phận trôi dạt của mình.
Sáng hôm sau là ca thay băng cuối cùng trước khi hoàn tất thủ tục. Cơn mưa rào ngoài trời khiến không khí phòng bệnh trở nên trầm lắng. Tôi ngồi xuống bên mép giường, cẩn trọng tháo bỏ lớp gạc cũ, vệ sinh thương tổn rồi nhẹ nhàng quấn lại dải băng mới. Cài trong túi áo blouse của tôi, cây bút máy kỷ niệm vô tình tuột nắp, lộ ra một phần thân bút tróc sơn.
Ngay khi tôi vừa buộc xong mối gạc cuối cùng, một bàn tay gầy gò bất ngờ vươn tới, nắm chặt lấy cổ tay tôi. Lực nắm không mạnh nhưng lại run rẩy một cách dữ dội.
Tôi ngạc nhiên ngẩng đầu lên. Ông Tư đang nhìn tôi bằng đôi mắt đẫm lệ, long lanh những giọt nước mắt chực trào. Ánh nhìn chao ôi tha thiết ấy dán chặt vào chiếc bút máy nơi túi áo tôi, rồi ngước lên nhìn thẳng vào mắt tôi.
Môi ông run run, rung lên từng hồi. Và rồi, bằng một giọng nói thì thào đầy chấn động, ông cất tiếng gọi một cái tên mà suốt mười bảy năm qua tôi chưa từng nghe thấy trong bất kỳ căn phòng bệnh nào:…..
“Khánh Vân… Có phải Vân đó không con?”
Câu nói thốt ra khiến tôi bàng hoàng toàn thân, từng mạch máu như ngưng trệ. Cái tên của mẹ tôi – người đã khuất bóng mười mười bảy năm trước – vừa cất lên từ vòm họng của người già xa lạ này.
“Ông… sao ông lại biết tên mẹ con?” – Tôi run run hỏi, tim đập liên hồi trong lồng ngực.
Ông Tư không trả lời ngay. Đôi bàn tay gầy gò của ông run rẩy chạm vào cây bút máy đang cài trên túi áo tôi. Ông nâng niu nó bằng sự trân trọng tuyệt đối, ngón tay cái nhẹ nhàng lướt qua dòng chữ mờ khắc trên nắp thép: “Thân tặng Vân – Lớp 9B – 1988”.
Nước mắt từ đôi mắt đục mờ của ông bắt đầu lăn dài trên những nếp nhăn chân chim. Ông nghẹn ngào: “Cây bút này… chính tay thầy đã khắc dòng chữ này tặng cho mẹ con vào ngày tổng kết năm học đó… Thầy là Đức… thầy giáo dạy Văn trường Tân Phú ngày xưa đây…”
Một luồng điện như chạy dọc sống lưng tôi. Tôi đứng chôn chân tại chỗ, nước mắt vỡ òa ra không kiểm soát nổi. Người thầy giáo mà mẹ tôi luôn đau đớn nhắc đến trước khi nhắm mắt, người ân nhân mà tôi đã cất công tìm kiếm suốt mười mười bảy năm qua qua bao nẻo đường, hóa ra lại đang nằm ngay trước mặt tôi – trong hình hài một bệnh nhân cô độc, lặng lẽ chịu đựng những cơn đau ở góc giường số 18 này!
Ông cất giọng run run kể lại: Sau khi ngôi trường làng giải thể, biến cố gia đình ập đến, vợ con ông lần lượt qua đời vì bệnh hiểm nghèo. Cõi lòng tan nát, ông rời quê đi lang bạt làm đủ nghề tự do, rồi tuổi già sức yếu, tài sản chẳng có gì ngoài cuốn sổ ghi chép tên tuổi những học sinh cũ mà ông từng yêu thương dạy dỗ. Ông mở cuốn sổ bọc bìa kiếng ra, chỉ vào dòng chữ đã hoen màu thời gian: Khánh Vân – học sinh giỏi Văn, hoàn cảnh đặc biệt.
“Thầy vẫn luôn nhớ đến mẹ con,” ông sụt sịt, “nhưng khi thầy tìm về quê cũ thì nghe tin mẹ con đã qua đời từ lâu. Thầy cứ day dứt mãi vì không biết đứa con gái nhỏ của Vân sau này sống ra sao…”
Tôi không kìm được xúc động, quỳ gối xuống bên cạnh giường bệnh, hai tay ôm lấy bàn tay gầy gò của ông. Tôi dập đầu cúi chào ông ba cái – hoàn thành trọn vẹn lời hứa thiêng liêng mà mẹ đã gửi gắm trước lúc đi xa.
“Thầy ơi! Mẹ con trước khi mất đã dặn con rằng, nếu gặp được thầy, phải thay mẹ cúi đầu cảm ơn thầy ba cái… Mẹ chưa bao giờ quên ơn cứu giúp và tình yêu thương của thầy ngày ấy!”
Ông Đức ôm lấy đầu tôi, những giọt nước mắt nóng hổi của người thầy già rơi trên tóc tôi. Căn phòng bệnh ngập tràn không khí ấm áp, xóa tan đi cái lạnh lẽo của những ngày mưa phùn ngoài cửa sổ.
Ngay ngày hôm đó, tôi xin gặp Trưởng khoa Bích để trình bày toàn bộ sự việc. Nhìn thấy hoàn cảnh thực sự và tình cảm thầy trò đầy nhân văn ấy, chị Bích đã tạo điều kiện tối đa để ông Đức tiếp tục được ở lại khoa điều trị phục hồi nâng cao.
Thời gian sau đó, tôi chính thức đón thầy Đức về nhà mình phụng dưỡng. Gian nhà nhỏ từng vắng bóng bàn tay chăm sóc nay lại rộn rã tiếng cười. Bàn chân của thầy dần lành lặn nhờ sự chăm sóc y tế chu đáo. Mỗi tối, dưới ánh đèn ấm áp, thầy lại ngồi bên khung cửa sổ, cùng tôi lật mở những trang sổ cũ và kể cho tôi nghe những kỷ niệm đẹp đẽ về mẹ ngày còn đi học.
Bản nhạc dở dang năm nào cuối cùng đã tìm được những nốt nhạc kết thúc thật trọn vẹn và bình yên. Cây bút máy cũ vẫn nằm ngoan ngoãn trong túi áo blouse của tôi, nhưng giờ đây, nó không chỉ là di vật của mẹ, mà còn là biểu tượng của tình người, của lời hứa xuyên thời gian đã được thực hiện trọn vẹn.