Hôm ấy trời mưa tầm tã. Chị Loan đứng giữa sân chống nạnh ném quần áo ba mẹ con Thắm ra cổng, miệng thét: “Nhà này không nuôi báo cô.” Thắm quỳ xuống giữa sân xin cho ba mẹ con ở lại gian bếp cũng được, chỉ cần có chỗ che mưa cho con. Anh Hùng đứng trên hiên phẩy tay như đuổi tà: “Cô về nhà mẹ đẻ mà ở. Đất này không có phần của loại đàn bà không biết đẻ.” Đêm ấy ba mẹ con Thắm ôm nhau ngủ nhờ quán nước bà Bảy rồi dọn ra túp lều canh cá bỏ hoang ngoài đê.
Tôi đứng nghe hết, nắng trưa đổ lửa trên đầu mà sống lưng lạnh toát. Sáu năm ở đảo tôi từng ôm súng đứng gác giữa đêm dông, chưa bao giờ tôi run. Vậy mà lúc này đôi chân người lính của tôi run lên từng chập.
Tôi hỏi bà Bảy chỉ đường ra túp lều rồi đi một mình. Con đường ra đê chỉ chừng hơn cây số, vậy mà tôi đi như dài cả một đời người. Túp lều hiện ra ở lưng chừng dốc ven đê – mấy tấm phên nứa ghép lại, mái lợp lá cọ đã mục, chỗ thủng che bằng tấm bạt xanh bạc phếch. Trước cửa phơi mấy bộ quần áo trẻ con sờn màu và một chiếc áo bộ đội cũ – chiếc áo tôi để lại ngày lên đường.
Một người đàn bà gánh đôi quang thúng đang lầm lũi đi lên. Dáng gầy liêu xiêu, cái nón lá rách vành, ống quần sắn cao lấm bùn. Tôi nheo mắt nhìn và tim như bị ai bóp nghẹt. Thắm đấy ư? Người con gái ngày xưa má lúm đồng tiền giờ đây gầy đến mức hai gò má nhô lên, cổ tay lộ cả xương.

Hai đứa trẻ chạy ùa ra. Con bé lớn chừng tám tuổi đỡ thúng cho mẹ. Con bé út chừng sáu tuổi ôm cổ mẹ ríu rít. Tôi nghe tiếng con bé lớn: “Mẹ ơi, hôm nay bán hết không? Tối nay có được ăn cơm với trứng không?” Thắm cười: “Tối nay mẹ luộc trứng, mỗi chị em một quả.” Con bé út vỗ tay reo như được cả hũ vàng.
Tôi bước ra khỏi rặng phi lao. Con bé lớn nhìn thấy tôi trước: “Mẹ ơi, có chú bộ đội nào đi lên kìa.” Thắm ngẩng đầu, đôi quang thúng tuột khỏi vai, mớ rau muống lăn lóc xuống đất. Cô ấy run rẩy gọi: “Mình… mình ơi… anh Hải… anh Hải phải không?”
Tôi ừ một tiếng. Chỉ một tiếng ừ mà cổ họng tôi đau như nuốt phải mảnh sành. Thắm quỵ xuống vệ đê, hai tay bưng mặt khóc nức nở. Tôi chạy tới quỳ xuống ôm lấy tấm lưng gầy chỉ còn da bọc xương. Qua lớp vải áo tôi đếm được từng đốt sống lưng của vợ tôi. Sáu năm quân ngũ dạy tôi không rơi nước mắt, nhưng hôm nay tôi xin trả lại bài học ấy.
Đêm ấy trong túp lều, sau khi hai con ngủ, Thắm kể hết. Mẹ tôi ốm nhanh, phát bệnh gan chưa đầy bốn tháng thì đi. Trước lúc mất bà cầm tay Thắm dặn ba điều: một là đừng bỏ đất mà đi, cùng lắm ra ven đê ở chờ chồng về; hai là đừng cãi nhau, đừng giành giật với ai; ba là khi nào Hải về bảo nó, mẹ đã gửi phần của nó ra đảo rồi.
Tang mẹ vừa xong, vợ chồng anh Hùng về thay khóa cổng. Chị Loan còn lục tung buồng mẹ tôi suốt một buổi sáng như tìm thứ gì đó. Rồi cái ngày mưa ập đến. Cuốn sổ đỏ anh Hùng dí vào mặt Thắm là sổ anh ta xin cấp lại sau khi khai báo mất giấy và làm giả chữ ký của tôi trong biên bản họp gia đình.
Sáng hôm sau tôi mặc quân phục, cho cuốn sổ đỏ vào ba lô rồi ra ủy ban xã. Tôi trình bày ngắn gọn, đặt lên bàn ba thứ: quyết định xuất ngũ, chứng minh thư và cuốn sổ đỏ. Cán bộ địa chính đối chiếu hồ sơ rồi thông báo: giấy chứng nhận tôi mang đến là bản gốc cấp cách đây hơn ba năm, thủ tục tặng cho có công chứng đầy đủ. Trong khi đó hồ sơ cấp lại mang tên Trần Văn Hùng được lập trên cơ sở khai báo mất giấy và biên bản họp gia đình có chữ ký giả của tôi.
Khi vợ chồng anh Hùng được mời lên, tôi rút lá thư của mẹ đặt lên bàn: “Thưa các bác, đây là thư mẹ tôi để lại. Mẹ dặn nếu vợ con tôi yên ổn thì anh em đóng cửa bảo nhau, nhưng nếu vợ con tôi bị ứ/c hi/ếp thì cầm sổ ra pháp luật. Tôi đi sáu năm về thấy vợ tôi còn ba mươi mấy cân, hai con mừng vì được ăn quả trứng luộc. Vậy nên hôm nay tôi không đóng cửa được nữa.”………….
Kết quả giám định chữ ký trong biên bản họp gia đình không phải của tôi. Anh Hùng bị khởi tố về tội làm giả tài liệu, hưởng án treo hai năm. Giấy chứng nhận cấp cho anh bị hủy bỏ. Anh mất việc ở cơ quan, bán nhà trên phố trả nợ. Chị Loan bị xử phạt hành chính. Còn gia đình tôi dọn về nhà cũ.

Ngày dọn về, cả xóm sang giúp. Bà Bảy mang lá thơm đun nước lau bàn thờ. Ông Tư vác thang chặt bớt cành bưởi. Chị Lành xách rau với trứng bảo quà mừng tân gia. Hai đứa con chạy khắp nhà, con bé út cứ hỏi: “Bố ơi, từ nay mình ở đây thật hả bố? Không phải đi đâu nữa hả bố?”
Chiều tôi lau tấm ảnh mẹ đặt lên bàn thờ, thắp ba nén nhang. Tôi quỳ xuống, hai con quỳ hai bên, Thắm quỳ phía sau. Tôi khấn mà nước mắt cứ chảy: “Mẹ ơi, con về rồi. Con đưa vợ con về nhà rồi. Con đã làm đúng lời mẹ dặn, không đánh ai, không chửi ai, chỉ cầm sổ ra pháp luật.”
Một cơn gió lùa qua cửa làm mấy sợi khói uốn cong lên trần như một bàn tay vuốt nhẹ. Tôi tin mẹ đang ở đó và đang mỉm cười.
Những năm sau cuộc sống khá dần. Tôi xin làm bảo vệ, tối về làm ruộng. Thắm mở sạp bán rau. Người vợ gầy rộc năm nào dần có da có thịt, má lúm lại thấp thoáng. Con bé Ngân học giỏi, con bé út vẽ tranh khắp nhà – vẽ bố mặc quân phục đứng gác bên cột mốc.
Một chiều mùa đông, anh Hùng về làng, đứng ngoài đường nhìn vào. Tôi ra mở cổng mời vào. Anh ngồi trên bậc thềm nhìn căn nhà sơn lại, sân gạch sạch bong, hai đứa cháu gái học bài dưới đèn. Anh bật khóc: “Chú Hải, anh sai rồi. Anh không xin chú tha. Anh chỉ xin thắp cho mẹ nén nhang.” Tôi tự tay châm hương đưa anh. Hai anh em ngồi bên bàn thờ mẹ đến khuya, không nói chuyện đất đai, chỉ nhắc chuyện hồi bé – mẹ đi chợ về mua bánh đa vừng bẻ đôi chia mỗi đứa một nửa.
Tôi nhìn khói nhang tàn dần trên bàn thờ mẹ và nghĩ về con đường từ túp lều ven đê về căn nhà này. Nó dài hơn sáu năm tôi ở đảo rất nhiều. Nhưng cuối cùng chúng tôi đã về được. Và dưới mái nhà ấy không còn tiếng khóc của hai đứa trẻ mừng vì được ăn quả trứng luộc nữa.
