Xe hết xăng giữa đêm mưa, tôi gõ cửa căn chòi lạ, người mở cửa là người vợ đã mất mười năm…….
Cánh cửa gỗ hé mở. Ánh đèn dầu hắt lên gương mặt người đàn bà đứng sau nó.
Chiếc ô trên tay tôi nghiêng hẳn xuống. Nước mưa chảy ướt một bên vai mà tôi không hề hay biết.
Gương mặt ấy, đôi mắt ấy, cả dáng đứng hơi nghiêng khi giữ cánh cửa ấy, tôi nhớ đến mức nhắm mắt cũng vẽ lại được. Đó là vợ tôi. Đỗ Thanh Lam. Người mà mười năm nay tháng nào tôi cũng mang hoa đến thắp hương trước mộ.
Phía sau, mẹ tôi đánh rơi chiếc túi xách. Đồ đạc văng ra nền đất, bà không cúi nhặt, chỉ đứng run rẩy lắc đầu liên hồi.
Người đàn bà siết tay vào mép cửa đến trắng bệch các ngón. Rồi chỉ một thoáng, vẻ bối rối biến mất, thay bằng sự bình thản khiến tôi lạnh người.
“Hai mẹ con cần nước uống hay chỉ muốn trú mưa?”
Tôi là Lâm Khải Dương, trung tá công an. Đêm ấy tôi đưa mẹ về quê, rẽ nhầm một ngã ba, xe hết xăng giữa con đê vắng. Đốm đèn vàng duy nhất giữa đồng nước dẫn chúng tôi đến căn chòi lá ven sông này.
“Anh là Dương đây. Chồng em. Sao em còn sống mà không về?”
“Anh nhận nhầm người rồi. Tôi chỉ là thợ may ở bến sông.”
Ánh đèn rọi xuống bàn tay trái cô đặt trên khung cửa. Sát mép lòng bàn tay là một vết sẹo mảnh. Ngày trước, Lam bị dao cứa khi gọt trái cây cho tôi. Chính tay tôi băng vết thương ấy bằng chiếc khăn tay của mình.
“Làm nghề may thì tay có sẹo cũng thường thôi.” Cô bắt đầu khép cửa.
Mẹ tôi bỗng lên tiếng, giọng run đến mức tôi không nhận ra. Mắt bà dán vào chiếc vòng bạc khắc lá trúc trên cổ tay cô, quà cưới tôi tự tay đeo cho vợ.
“Chiếc vòng đó… chính tay mẹ đã tháo nó ra khỏi tay con. Đêm xảy ra chuyện…”
Tôi quay sang nhìn mẹ. Nếu Lam đã mất như cả nhà được báo, sao mẹ lại hoảng hốt như vừa gặp ma?
Cuối cùng cô vẫn cho chúng tôi vào. Căn chòi rộng chừng hai chiếc chiếu, một chiếc máy may cũ, mấy cuộn vải xếp ngay ngắn trên giá tre. Cạnh cửa sổ treo một chiếc áo sơ mi đàn ông màu xanh xám, khuỷu tay vá một đường chỉ rất khéo. Ngày xưa, Lam cũng hay ngồi bên cửa sổ vá áo cho tôi như thế.
“Anh lấy tư cách gì để hỏi tôi câu đó?”
Tôi cứng họng. Mười năm tôi nhớ thương một Thanh Lam trong quá khứ, còn người trước mặt có công việc, có những mối quan hệ, có cả một cuộc đời không có tôi.
Mẹ tôi ngồi nép trong góc, mỗi lần Lam đi ngang lại cúi đầu thấp hơn. Có lúc bà buột miệng gọi cô một tiếng “con”, rồi vội đưa tay bịt miệng.
Sáng hôm sau, một người đàn ông xách can xăng đến, gọi tên Lam bằng giọng thân thuộc. Anh tên Trần Hữu Nghĩa, có xưởng cơ khí gần bến. Lam nhờ anh đến. Cô gấp chiếc áo xanh xám trao lại cho anh. Anh biết đường vào căn chòi, biết cô cần gì, biết lúc nào nên có mặt. Còn tôi phải nhờ một chiếc xe hết xăng mới tìm được đến nơi vợ mình đang sống.
Trước khi đi, Nghĩa kéo tôi ra một góc: “Anh tìm đến để làm chị ấy đau thêm thì đừng quay lại.”
Tôi không về nhà. Tôi lái thẳng ra nghĩa trang, quỳ trước tấm bia khắc tên vợ, đặt tay lên mặt đá lạnh buốt, rồi bật cười khô khốc. Mười năm, người tôi kể chuyện chưa từng nằm ở đây.
Ký ức đêm tang lễ ùa về. Phạm Đức Vinh, người thân tín lo giấy tờ cho công ty gia đình, đứng ra thu xếp mọi thủ tục. Tôi xin được nhìn mặt vợ lần cuối. Ông ta ngăn lại: “Cô ấy không còn nguyên vẹn. Nhìn rồi cháu sẽ ám ảnh cả đời.” Thứ người ta trao tận tay tôi chỉ là một chiếc vòng bạc bọc khăn lụa và tờ giấy đóng dấu đỏ.
Đêm đó, tôi lật lại tập hồ sơ cũ. Ở phần xác nhận nhận dạng, có một chữ ký mang tên tôi. Tôi nhìn rất lâu. Nét đầu giống, nhưng nét cuối kéo dài khác hẳn. Tôi chưa từng ký vào tờ giấy đó.
Vài ngày sau, tôi đưa mẹ quay lại căn chòi. Lam nấu bữa cơm cá kho, canh chua. Ăn xong, tôi ra sân, rồi quay vào lấy chiếc điện thoại để quên. Cửa khép hờ. Tôi nghe giọng mẹ, nhỏ và run:
“Mẹ xin con… đừng nói với thằng Dương chuyện chiếc vòng.”
Tôi chết lặng ngoài hiên.
Giọng Lam lạnh tanh: “Mười năm rồi, mẹ vẫn muốn con giấu tiếp sao?”
Trên đường về, tôi dừng xe bên vệ đường, quay xuống nhìn mẹ. Bà khóc rất lâu rồi mới kể. Sau tang lễ, bà nhận được một lá thư viết tay. Nét chữ run rẩy, mực nhòe, nhưng bà nhận ra ngay chữ của Lam. Bà mang hỏi Đức Vinh. Ông ta bảo đó là kẻ mạo danh, đưa cho tôi xem chỉ khiến tôi gục ngã thêm lần nữa.
Mẹ đã cất lá thư đi. Suốt mười năm.
Sáng hôm sau, tôi một mình trở lại bến sông. Lam ngồi dưới mái hiên, chiếc vòng bạc lấp lánh dưới nắng. Cô bảo tôi ngồi, đừng ngắt lời.
“Lúc tỉnh lại trong bệnh viện, điều đầu tiên em nghĩ đến là anh. Em nhờ người gọi cho anh. Em viết thư. Ngày nào nghe tiếng bước chân đàn ông ngoài hành lang, em cũng cố ngẩng đầu nhìn ra cửa.”
Cô quay sang nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Rồi một người đàn ông mặc vest xám đến. Ông ta nói anh đã biết em còn sống. Nhưng anh không muốn gặp em nữa.”
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc PHẦN 2 của câu chuyện d;ưới ph;ần b;ình lu;ận đầu tiên………..
Tôi không thở được.
Mười năm. Tôi quỳ trước một tấm bia đá, gọi tên cô trong gió. Còn cô nằm trên giường bệnh, tin rằng chồng mình đã chọn quay lưng.
“Anh chưa từng nhận được tin nào cả, Lam ạ.”
“Em biết. Bây giờ em đã nghe anh nói. Nhưng mười năm trước, em không được nghe.”
Tôi lại phạm sai lầm. Tôi lẳng lặng mua một căn nhà mái ngói gần bến, mang chìa khóa đến đặt lên bàn trước mặt hàng xóm. Lam cầm chùm chìa khóa, đặt lại vào lòng bàn tay tôi, khép từng ngón tay tôi lại.
“Mười năm trước có người quyết định thay em rằng chồng không muốn gặp. Bây giờ anh lại quyết định thay em rằng em cần một căn nhà. Em không phải người cần được cứu.”
Từ hôm đó, tôi học cách hỏi trước.
Một chiều, Lam ngồi bệt giữa nhà, tay run run cầm nửa tờ giấy ố vàng tìm thấy dưới đáy rương cũ. Đó là biên bản bàn giao chứng từ, xé đôi, còn nửa con dấu đỏ của phòng tài chính công ty gia đình tôi.
Trước biến cố, Lam từng giúp đối chiếu sổ sách và phát hiện những khoản tiền chuyển cho một doanh nghiệp lạ tên Hải Long, kèm chữ ký mang tên tôi vào đúng những ngày tôi công tác ở tỉnh xa. Đêm cô gặp nạn, chính Đức Vinh hẹn cô đến kho hàng ven sông để “đối chiếu gấp”. Mái kho sập giữa trận mưa lớn. Sau khi cô xuất viện, cũng chính ông ta tìm đến phòng trọ, hứa giúp cô gặp chồng nếu cô giao nốt chỗ chứng từ còn giữ.
Cô giao. Cuộc gặp không bao giờ đến.
Người đứng tên doanh nghiệp Hải Long là em họ của Phạm Đức Vinh.
Nhưng thứ khiến tôi lạnh sống lưng nhất lại là chiếc vòng bạc.
Luật sư lần ra một tiệm bạc cũ trong hẻm chợ. Ông thợ già lật cuốn sổ bìa nâu: chiếc vòng lá trúc được đặt hai lần. Lần đầu là quà cưới. Lần thứ hai làm gấp, trả tiền mặt, bạc kém hơn, nét khắc nông hơn. Khoản tiền ấy khớp với một khoản chi từ tài khoản do Đức Vinh nắm quyền phê duyệt.
Tôi mở lớp khăn lụa đã cất suốt mười năm, đặt chiếc vòng cạnh vòng trên tay Lam. Chiếc của tôi nhẹ hơn. Không có vết xước nhỏ ở mép trong, vết xước từ lần cô va tay vào cạnh bàn khi hai đứa còn sống chung.
Mười năm, tôi nâng niu một món đồ giả như kỷ vật cuối cùng của vợ.
Rồi trong chiếc hộp mẹ tự nguyện giao ra, luật sư tìm thấy một tờ giấy ủy quyền cho người trung gian thay gia đình nhận mọi thư từ, thông báo từ bệnh viện. Ký tên Phạm Đức Vinh. Và bên cạnh là một chữ ký khác, mềm, hơi run.
Mẹ nhìn tờ giấy rất lâu. “Chữ ký đó… là của mẹ.”
Bà ký mà không đọc hết. Và bà thừa nhận, khi giữ lại lá thư của Lam, ngoài sợ tôi gục ngã, bà còn sợ điều tiếng.
Lam ngồi im suốt buổi. Rồi cô bước đến bên mẹ.
“Con không thể nói là con tha thứ ngay. Nhưng con vẫn gọi mẹ là mẹ.”
Một đêm, có ba tiếng gõ cửa căn chòi. Giọng Đức Vinh vang lên ngoài hiên, mềm mỏng như mười năm trước. Ông ta đề nghị một khoản tiền đủ mở xưởng may lớn, chỉ cần cô ngừng cung cấp giấy tờ.
Lam không mở cửa. Cô bật ghi âm, đứng sau tấm ván, nói rõ từng chữ: “Mười năm trước tôi tin một lời hứa và mất mười năm. Lần này tôi không nhận gì cả.”
Những gì sau đó, pháp luật làm phần việc của pháp luật. Giấy tờ của Lam được điều chỉnh lại. Hôm nhận văn bản, cô không gọi cho tôi. Cô ngồi một mình trên bậc thềm suốt buổi chiều. Tôi chỉ nhắn: “Anh vẫn ở đây.” Rồi để ngày hôm ấy là của riêng cô.
Mẹ tôi bán căn nhà lớn, về ngoại ô trồng rau. Thỉnh thoảng bà ghé xưởng may, ngồi một góc lặng lẽ cắt chỉ thừa. Lam mang cho bà ly nước ấm. Bà đón bằng cả hai tay, như nhận một món quà không dám đòi.
Một sáng, Lam dẫn tôi đến quán hủ tiếu nhỏ dưới gốc bàng gần bến phà. Ông chủ ngoài sáu mươi, da sạm, tay chai sần.
“Đây là chú Tám Bình. Đêm mái kho sập, chính chú kéo em ra.”
Mười năm, chú không biết người đàn bà mình đưa lên xe cấp cứu còn sống hay không.
Tôi cúi đầu thật sâu. Chú vội đỡ tôi dậy, rồi quay đi quệt mắt.
Lam đẩy chén nước mắm ớt về phía tôi. Đúng độ cay tôi thích. Mười năm rồi, cô vẫn nhớ.
Chúng tôi không làm lại đám cưới. Cũng chưa về chung một mái nhà. Cuối tuần nào không trực, tôi lại về bến sông, ngồi ngoài hiên nghe tiếng máy may, phụ cô rửa mấy cái chén.
Tối qua mất điện. Lam thắp ngọn đèn dầu cũ đặt trước hiên. Vẫn ngọn đèn đã dẫn tôi đến đây trong đêm mưa năm ấy.
“Ngày trước em thắp nó vì sợ bóng tối,” cô nói. “Rồi em thắp vì nghĩ biết đâu có người lỡ đường cần thấy ánh sáng.”
Tôi nhìn những sợi tóc bạc mảnh nơi thái dương cô, đôi bàn tay chai sạn vì mười năm cầm kim một mình.
Năm ấy cô hai mươi sáu tuổi.
Tôi đã tìm lại được vợ mình. Nhưng những đêm cô nằm trên giường bệnh, ngẩng đầu nhìn ra cửa mỗi khi nghe tiếng bước chân, chờ một người không bao giờ đến, thì không ai trả lại được nữa.
Ngọn đèn vẫn cháy leo lét. Ngoài kia, nước sông vẫn vỗ vào chân cầu ván, đều đặn như suốt mười năm tôi không có mặt.