Vợ Bầu Gần Sinh Phải Ăn Cơm Thừa Của Chó – Tôi Phát Hiện Hơn 400 Triệu Mình Gửi Về Đã Đi Đâu
Chiếc ba lô tuột khỏi vai tôi, rơi xuống nền xi măng ẩm mốc. Chiều hôm ấy trời mưa lạnh. Tôi về sớm một ngày, xách túi nếp nương, định bụng làm vợ bất ngờ. Nhưng ở góc hiên sau hè, cạnh chuồng chó, vợ tôi đang ngồi bệt dưới nền, bụng bầu gần ngày sinh, trên tay là chiếc bát sứt mẻ. Trong bát là cơm nguội trộn canh cặn, xúc ra từ chính máng ăn thừa của con chó. Cô ấy nuốt vội từng hạt cơm cứng ngắc, nước mắt chảy dài trên gò má hốc hác mà không dám bật ra một tiếng nấc. Cùng lúc đó, từ gian nhà trên sáng rực đèn, tiếng cười nói vọng ra. Mẹ tôi, vợ chồng thằng em trai đang quây quần bên mâm hải sản, gà quay thơm lừng. Mẹ giục em dâu ăn thêm tôm cho bổ. Thằng em hả hê nâng ly mừng chiếc xe mới tậu.
Tôi đứng chết lặng. Mỗi viên gạch trong căn nhà ấy, mỗi đồng tiền họ đang tiêu, đều là tiền lương quân đội tôi chắt chiu gửi về suốt mấy năm trời. Tôi lao tới, giật chiếc bát khỏi tay vợ. Nó văng xuống nền, vỡ toang, cơm ôi thiu vương vãi. Tôi đỡ cô ấy đứng dậy, chạm vào đôi bàn tay tím tái lạnh ngắt, và giọt nước mắt chưa từng rơi nơi biên cương bỗng trào ra. Mai hoảng hốt che bụng, lắp bắp van tôi đừng làm ầm lên, kẻo mẹ giận lại đuổi cô ấy đi.
Mẹ tôi bước ra, không chút bối rối. Bà liếc xéo, mắng tôi bất hiếu vì làm hỏng bữa cơm sum họp. Bà bảo thứ đàn bà ăn bám, không làm ra tiền, lại mang bụng bầu to tướng, có cơm thừa mà nuốt đã là phúc đức nhà này ban cho, đâu có quyền ngồi chung mâm với người thành đạt như vợ chồng em trai tôi. Tôi bế thốc vợ lên xe máy, lao đi trong mưa tới trạm xá. Bác sĩ nói chỉ chậm nửa tiếng nữa thôi, cả mẹ lẫn con đều không giữ nổi vì kiệt sức và hạ thân nhiệt.
Đêm ấy, ngồi bên giường bệnh, Mai tỉnh dậy, việc đầu tiên cô ấy làm là níu tay áo tôi hỏi: “Anh ơi, viện phí lấy đâu ra? Mẹ mà biết anh làm to chuyện thì đuổi hai mẹ con em ra đường mất.” Tôi nói toàn bộ lương, phụ cấp của anh đều gửi mẹ giữ để lo cho hai mẹ con. Mai chỉ lắc đầu, rồi nghẹn ngào kể hết. Mỗi tháng mẹ ném cho cô ba trăm nghìn mua thức ăn, bắt cô làm quần quật như người ở không công: giặt giũ cho cả nhà, lau dọn ba tầng lầu, chăm vườn tược, khi mang bầu chín tháng. Những hôm đói lả, cô lén hái rau dại sau vườn, luộc chấm muối. Trưa nay, sau khi cọ sân gạch dưới mưa phùn, cô hoa mắt ngã quỵ bên hiên, thấy máng cơm con chó còn sót lại, vì sợ con trong bụng kiệt sức, cô đã bốc từng nắm bỏ vào miệng.
Tôi gọi ngay về cho mẹ, hỏi hơn bốn trăm triệu tôi gửi suốt mấy năm nay đang ở đâu mà vợ tôi phải sống như loài vật. Bà quát thẳng: số tiền ấy bà đã cho vợ chồng thằng út đặt cọc căn chung cư ngoài phố huyện và sắm xe ga đắt tiền. Thằng út học đại học, làm văn phòng, cần nhà đẹp xe sang để tiếp khách. Còn tôi chỉ là thằng lính thô kệch, đi biền biệt nơi biên giới cần gì đến tiền. Tiền tôi gửi là tiền báo hiếu, bà có toàn quyền định đoạt, tôi không có tư cách đòi lại một xu cho “người đàn bà ngoài đường ngoài chợ”. Rồi em trai giật điện thoại, cười khẩy, bảo tôi ấu trĩ, tiền vào tay ai người đó hưởng, nếu tôi dám làm ầm lên đơn vị, nó sẽ xúi mẹ làm đơn kiện tôi bất hiếu để tôi mất quân hàm.
Tôi đứng giữa hành lang bệnh viện vắng ngắt, móng tay găm vào lòng bàn tay rớm máu. Tôi hiểu nếu còn nhẫn nhịn vì hai chữ “gia đình” mù quáng, thứ bị tước mất sẽ không chỉ là tiền. Bác sĩ giữ Mai lại theo dõi. Tôi ngồi canh bên giường, nhìn cái bụng nhô cao của vợ và tự hỏi: vì đâu mẹ có thể nhẫn tâm với chính cháu mình đến thế? Câu trả lời nằm ở những vết nứt từ rất lâu, rất lâu trước đó.
Tám tuổi, tôi mất bố sau một tai nạn đắm đò trên sông Đáy. Mẹ gánh khoai ra chợ nuôi hai đứa, còn thằng Dũng mới ba tuổi, hay ốm vặt. Trong mắt mẹ, em trai mới là báu vật. Bữa cơm nào có quả trứng, miếng thịt mỡ, bà cũng gắp hết vào bát nó. Tôi ăn cơm độn khoai, rau muống chấm tương, áo rách vai suốt mấy mùa đông. Năm tôi đỗ trường đại học y ở thủ đô với điểm rất cao, tôi cầm giấy báo chạy về khoe, tưởng mẹ sẽ ôm. Bà chỉ liếc qua rồi bảo nhà không có tiền nuôi hai đứa học, tôi ở nhà đi làm thuê dành tiền cho em.
Tôi không oán, chỉ khao khát một lời khen. Tôi lặng lẽ thi vào trường sĩ quan, nơi không đóng học phí, để mẹ khỏi tốn một đồng, rồi gửi hết phụ cấp về quê. Lên biên giới, tôi vẫn gửi trọn từng đồng lương. Có lần sốt rét ác tính, nằm mê man năm ngày ở trạm xá, tỉnh dậy tôi run rẩy gọi về, chỉ mong nghe mẹ hỏi một câu xót xa. Bà gắt: ốm xoàng thì chịu đi, nhớ gửi tiền đúng mùng một cho em đóng học phí. Cúp máy, nước mắt tôi ướt đẫm gối.
……………………………………………
Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY


Người đầu tiên hỏi tôi có lạnh không là Mai, cô gái mồ côi tôi gặp ở chợ phiên cuối năm, ngồi co ro dưới mái hiên, bẻ nửa củ khoai nướng chia cho đứa bé ăn xin rồi nhét củ còn lại vào tay tôi: “Cháu biếu, không lấy tiền.” Cô đan cho tôi chiếc khăn len đỏ. Tôi ngỏ lời, cô nhận lời trong nước mắt. Khi tôi gọi về báo tin, mẹ vốn lạnh nhạt bỗng vồ vập lạ thường, giục đưa Mai về làm đám cưới ngay. Bữa cơm hôm ấy, mẹ gắp thịt gà vào bát tôi, khen tôi là cột trụ của dòng họ. Thằng Dũng rót rượu, bảo muốn làm ăn lớn để bù đắp cho anh. Chỉ cần anh cho mượn vốn, rồi ký giấy ủy quyền căn nhà hương hỏa của bố làm tài sản đối ứng ba tháng. Tôi nghẹn ngào gật đầu, rút hết tiền tiết kiệm, ký không đọc.
Giờ nhìn Mai thiêm thiếp trên giường bệnh, tôi mới nhớ ra tất cả. Đêm trước ngày tôi về đơn vị, đi ngang phòng mẹ, tôi nghe Dũng thì thào: “Anh ấy lên xe là mình tự quyết hết.” Sáng hôm sau, người bạn làm ở văn phòng đăng ký đất đai gọi tới, giọng gấp gáp: mảnh đất hương hỏa đã bị nộp hồ sơ chuyển nhượng, bên nhận là bà Bích Nguyệt, vợ một đại gia bất động sản vừa mất, đang cần gấp một người thừa kế là con trai để giữ khối di sản hàng trăm tỷ. Tôi chạy về phòng bệnh thì giường đã trống. Y tá bảo mẹ tôi và Dũng vừa đưa Mai đi “chuyển viện”, xe cấp cứu tư nhân chờ sẵn ngoài cổng.
Tôi mượn điện thoại của một người đồng đội phục viên làm ở trạm xăng gần đó, mở định vị chiếc điện thoại cũ Mai vẫn mang theo. Chấm đỏ nhấp nháy dẫn tôi tới một tòa nhà ba tầng cao tường kín cổng ở ngoại ô. Tôi leo vào bằng đường ống nước sau hông nhà, lọt vào một văn phòng bỏ trống, trên bàn gỗ mun là xấp giấy ủy quyền làm giả chữ ký Mai và bản di chúc bị sửa đổi. Tôi chụp lại từng trang. Rồi giọng bà Nguyệt vang lên ngoài cửa: “Cứ để đứa bé chào đời bằng mổ chủ động. Còn người mẹ thì cho quá liều thuốc, coi như biến chứng sản khoa.” Tiếp đó là giọng mẹ tôi, run rẩy trong loa ngoài: “Bà cứ giữ lời xóa nợ cho thằng Dũng, tôi chỉ xin có thế.” Tôi nép sau tấm rèm, quay lại toàn bộ, tay run lên vì căm phẫn. Khi chúng đi khuất, tôi gửi hết video lên hòm thư của cơ quan điều tra quân đội.
Tôi lao xuống hầm theo cầu thang thoát hiểm. Cửa sắt phòng mổ dã chiến có hai gã canh. Tôi giật cầu giao tổng, châm lửa vào cảm biến báo cháy; còi hú inh ỏi, đèn đỏ chớp, bọn chúng bỏ vị trí chạy đi. Tôi đạp tung cửa. Mai nằm bất động trên bàn mổ, gương mặt tím tái, một gã mặc áo blouse đang giơ dụng cụ lên. Tôi quật hắn ngã. Nhưng Dũng cùng mấy gã cao to ập tới, ghì tay tôi ra sau, đạp nát chiếc điện thoại dưới gót giày. Mẹ tôi chạy xuống, ôm chặt thắt lưng tôi, khóc van: “Quân, tha cho em con! Nó vay mượn tìm bác sĩ giỏi cứu vợ con đấy!” Vòng tay từng ấm nhất đời tôi siết như gông cùm.
Đúng lúc ấy, còi xe quân cảnh rền vang ngoài cổng. Cửa hầm bị đạp tung, ánh đèn pin quét qua. Bà Nguyệt thét lên khi một người đàn ông cao lớn, tóc bạc, bước vào giữa vòng hộ tống. Ông là người mà cả thành phố đã đưa đám nửa tháng trước, chồng bà ta. Ông không chết. Ông bước tới bàn mổ, cởi áo khoác trùm lên người Mai, rồi nhìn tôi bằng ánh mắt tôi chưa từng gặp ở ai: “Bố nợ con và cháu một món nợ quá lớn.” Hóa ra từ khi phát hiện thuốc lạ trong bữa ăn của mình, ông đã báo cơ quan điều tra, dàn cảnh qua đời để dụ vợ và gã luật sư lộ mặt. Và hai năm trước, nhờ vết sẹo sau gáy cùng mẫu gen quân nhân, ông đã tìm ra đứa con trai thất lạc từ thuở sơ sinh. Đứa con ấy là tôi. Nhưng ông chưa dám nhận con vì sợ bà Nguyệt ra tay trước. Bà ta cần đứa bé trong bụng Mai vì nó mang dòng máu trực hệ duy nhất của ông.
Gã luật sư bị còng tay, Dũng quỳ sụp xuống nền xi măng. Hắn ngước nhìn tôi, môi run run: “Anh hai…” Tôi không đáp. Hắn đã nợ cờ bạc, đã bị bà Nguyệt và gã luật sư nắm đằng chuôi, nhưng chính hắn đã đưa vợ tôi lên bàn mổ. Mẹ tôi ngồi bệt dưới sàn, ánh mắt trống rỗng, miệng lẩm bẩm gọi tên thằng út. Đội y tế quân đội đưa Mai lên cáng. Cô ấy mở mắt trong giây lát, tìm tôi, rồi bàn tay lạnh toát siết lấy tay tôi.
Con trai tôi chào đời bình an vào một sáng đầu đông, trong căn phòng có hơi ấm của người cha mà tôi mới học cách gọi bằng tiếng “bố”. Mai khỏe dần, nhưng đêm nào cũng giật mình, tay ôm bụng theo phản xạ. Tôi nằm cạnh, nghe tiếng thở của vợ, của con, và không ngủ được.
Tôi về thăm mẹ một lần, ở phòng chờ trại giam. Bà gầy đi nhiều, mái tóc bạc trắng. Bà nhìn tôi rất lâu, rồi hỏi nhỏ: “Con lạnh không?” Câu hỏi tôi chờ suốt ba mươi năm, đến vào lúc tôi không còn biết phải đáp thế nào.
Chiếc khăn len đỏ Mai đan vẫn treo ở móc cửa. Mỗi lần ra khỏi nhà, tôi đưa tay chạm vào nó, như chạm vào cái đêm đầu tiên có người hỏi tôi có lạnh không.