Đêm hội ấy, khi tôi quay đi mua kẹo, đám đông xô nó dạt vào lùm cây tối sau đình. Một bàn tay vỗ vai. Lão Tư cười giả lả, tay cầm cái kẹo mút: “Anh Hải nhờ bác ra đón, đi theo bác.” Trẻ năm tuổi, người hàng xóm sát vách, nó chìa tay lấy kẹo. Tay kia lão ụp miếng giẻ tẩm thuốc mê vào mũi nó. Lão trùm áo khoác bộ đội, vác như bao tải ra quốc lộ, nơi chiếc xe tải chở lợn chờ sẵn. Ba ngày đêm nó cuộn tròn dưới gầm sàn đầy phân lợn. Qua biên giới, mụ chủ định giá nó đúng ba chỉ vàng. Ba chỉ vàng, đổi lấy cả một gia đình tôi.
Mụ nhốt nó vào chuồng chó bằng sắt ngoài sân sau, trên vùng núi lạnh buốt. Nó khóc đòi anh hai thì roi mây quất xuyên kẽ sắt. Đêm rét, nó ôm con chó mẹ lấy hơi ấm. Mười sáu tuổi, mụ bán nó vào một bản sâu, làm vợ chung cho ba anh em nghèo khổ, ngớ ngẩn. Ban ngày chúng lùa nó lên nương, ban đêm xích chân vào thành giường. Có đêm nó nhìn sợi dây vắt trên xà nhà, nhưng trong đầu lại văng vẳng tiếng kẹo bông rơi lụp xuống đất và tiếng tôi gào giữa sân đình. Nó phải sống, chỉ để hỏi một câu: anh hai có cố tình vứt em đi không?
Ba năm sau, một đêm lũ quét, cả nhà cuống cuồng chạy lên đồi, vấp ngã làm tuột sợi xích. Nó cắm đầu chạy ngược xuống chân núi, ôm một thân cây chuối, để dòng nước quật vào đá, cuốn đi hàng chục cây số. Rồi nó đi bộ dọc quốc lộ ba năm, bới thùng rác, rửa bát thuê, chỉ để dò đường về. Về đến làng, nhà tôi đã thành xưởng gạch. Bà cụ thở dài: ông Tám chết vì bệnh gan, vợ ông điên dại chết rét ngoài đường. Nó lết ra nghĩa trang, cào mười đầu ngón tay bật máu lên đất mộ mẹ. Nó không dám tìm tôi: “Em bẩn thỉu lắm, anh là quản giáo, em về nhận thì sự nghiệp anh hỏng.”
Rồi một hôm, đang rửa núi bát sau hẻm nhà hàng, nó thấy chiếc xe đen bóng lộn đỗ lại. Gã béo tốt, cổ đeo dây chuyền vàng chóe bước xuống cười hoang oang. Hai mươi năm trôi qua, nó vẫn nhận ra cái giọng khê nồng ấy. Lão Tư. Nó lần theo tới biệt thự kề vựa phế liệu, chặn lão ngay cổng. Lão chỉ nhếch mép: “Ô kìa, bé Ngọc nhà ông Tám. Chưa chết à?” Nó gào sẽ lên công an. Lão ghé tai rít: “Tao nghe thằng Hải, anh cưng của mày, đang làm quản giáo. Mày dám kiện, tao thuê người chặt gân tay gân chân nó.”
Nó đi vạ vật suốt đêm, mua con dao gọt hoa quả. Hai giờ sáng hôm sau, nó leo ống nước vào biệt thự, cố tình gõ dao vào thành giường cho lão tỉnh, kề dao vào cổ lão, rít qua kẽ răng: “Mày cướp đời tao thì được, nhưng đòi chặt chân tay anh Hải thì tao cho mày xuống lỗ trước.” Ba nhát. Nó không chạy dù có thể leo cửa sổ. “Em ở lại cho thành án hình sự có hồ sơ. Lão tàn phế rồi, không hại anh được nữa.” Nó dùng nhà tù làm chiếc khiên che cho tôi suốt bảy năm.
Tôi tự tát vào mặt mình. Tôi cởi bộ cảnh phục, treo vào góc tủ rồi khóa lại, nhận tạm nghỉ việc. Tôi lên biên giới, bị gã xăm trổ kề mã tấu vào cổ, ngủ ghế đá bến xe hai mươi tám ngày để tìm bà Thoa, người vợ hờ cũ của lão Tư. Trong túp lều bạt cạnh bãi rác, bà nằm thoi thóp vì ung thư phổi, máu lấm tấm trên chăn. Tôi đút cho bà từng thìa cháo, rồi nói thật nhẹ tôi là anh trai bé áo len đỏ. Bà khóc: “Đêm đó tôi đứng cảnh giới đầu ngõ cho ông Tư.” Bà ấn ngón tay run rẩy vào mực đỏ điểm chỉ, rồi dúi vào tay tôi chiếc vòng bạc khắc hai con cá chép, thứ mẹ tôi đặt đánh riêng cho Ngọc dịp thôi nôi.
Nhưng tờ giấy của người sắp chết chưa đủ. Tôi bơm cho thằng con cờ bạc của lão một tin vịt: bố mày buôn người trúng hũ vàng, giả bệnh để tẩu tán. Tối đó tôi nấp dưới cửa sổ phòng lão, bấm máy ghi âm. Thằng con đập bàn gào đòi vàng. Lão gầm lên: “Vàng đâu ra! Hai mươi năm trước tao bán con ranh Ngọc được đúng ba chỉ vàng!” Tôi bước vào bật lại đoạn ghi âm. Lão chồm tới giật máy, ngã nhào xuống nền gạch. Nhưng khi hiểu tôi đã nắm thóp, lão cười sằng sặc: “Tội buôn người hết thời hiệu rồi. Con em mày đâm tao, nó vẫn phải đi tù.” Nắm đấm tôi giơ lên, rồi buông xuống.
Người thầy cũ của tôi chỉ ra kẽ hở: dùng chính những bằng chứng ấy để đổi tội danh của Ngọc sang cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, bởi nạn nhân đã đe dọa người thân duy nhất của nó. Phiên phúc thẩm chật kín người. Lão ngồi xe lăn, vẫn vênh mặt. Ngọc bám tay vào vành móng ngựa, kể hết hai mươi năm, vạch cổ áo cho hội đồng xem từng vết roi. Tiếng quạt trần xè xè, vị hội thẩm cũng tháo kính lau nước mắt. Lão vục mặt xuống ngực, không dám ngẩng lên. Tòa tuyên hai mươi bốn tháng tù, trừ thời gian tạm giam, chưa đầy một tháng nữa em được tự do.
Sau phiên tòa, thằng con cùng vợ bé của lão giả giấy ủy quyền, bán sạch vựa phế liệu và biệt thự lúc lão tai biến nằm viện rồi trốn biệt. Lão bị đưa về căn nhà trọ lợp tấm lợp, liệt toàn thân, ruồi muỗi bâu kín, ú ớ như gọi ai mà không thành tiếng. Tôi nghe kể mà chẳng thấy hả hê.
Sáng em ra tù, trời nắng vàng dù đã giữa đông. Tôi đứng ôm bó cúc trắng, loài hoa mẹ thích, trước cổng sắt. Cánh cổng lạch cạch mở. Ngọc bước ra trong bộ đồ dân sự, tóc buộc cao, lộ vết sẹo nửa vầng trăng. Nó bước qua vạch sơn vàng, rúc đầu vào ngực tôi: “Anh hai, hôm nay trời ấm quá.” Tôi chỉ nói được: “Về nhà thôi em.”
Tối ấy tôi nấu lại canh mướp đắng. Nó vừa nhai vừa khóc, bảo từ nay nó sẽ ăn cả phần vỏ đắng. Tôi gắp phần nhân thịt sang bát nó như ngày xưa, rồi nhìn hai chiếc ghế bên cạnh, nơi bố mẹ tôi không còn ngồi nữa. Ngoài hiên gió lùa qua, và đâu đó trong đầu tôi vẫn vang tiếng gọi “Ngọc ơi” của mình, hai mươi năm trước, giữa sân đình.
