Mẹ Chồng Suốt 5 Năm Luôn Chê Tôi, Đến Ngày Tôi Về Giỗ Cha, Bà Bất Ngờ Quỳ Trước Di Ảnh Ông
“Đi thì đừng vác xác về nữa!”
Cái quai ba lô tuột khỏi tay tôi, rơi xuống nền gạch. Khôi đứng chắn ngang cửa phòng, áo ba lỗ còn loang vệt nhớt, ngón tay chỉ thẳng ra sân như đuổi con chó lạ.
“Mai là sinh nhật sáu mươi của mạ. Mười hai mâm tui đặt rồi, cọc sáu triệu rồi. Vợ nhà ai lại bỏ đi đúng hôm đó?”
“Mai là giỗ đầu của ba em,” tôi nói. “Em xin về một ngày. Tối mai em lên liền.”
“Giỗ thì để má cô cúng. Người chết rồi, ai biết ai hay.”
Tôi đứng yên. Không phải vì sợ. Chỉ là không còn gì để nói với người vừa nói câu đó.
Ở góc bếp, mạ chồng tôi ngồi bóc tỏi, không ngẩng đầu. Cái rổ nhựa đỏ trên đùi bà đầy vỏ tỏi, mà củ nguyên chỉ còn đúng một. Bà ngồi đó từ lúc tôi bắt đầu xếp đồ, hơn một tiếng. Tôi thấy lạ nhưng không hỏi.
Tôi nhặt quai ba lô, đeo lên vai.
Tôi tên Diệu, ba mươi ba tuổi, quê Triệu Phong, Quảng Trị. Lấy Khôi năm năm, ở nhà thuê ba gian ở Hòa Khánh, Đà Nẵng, chung với mạ chồng. Tôi nhận may đồ tại nhà, một cái máy Juki cũ kê dưới mái hiên, tháng được tám chín triệu nếu gặp mùa cưới. Khôi mở tiệm sửa xe đầu ngõ, tháng có tháng không. Mạ chồng, bà Sương, bán rau ở chợ Hòa Khánh, người gầy, tóc búi chặt, nói ít, nhưng câu nào cũng như cái kim.
“Cá kho rứa mà cũng gọi là kho,” bà nói, đẩy dĩa cá ra giữa mâm. “Mặn chát. Con gái quê mà không biết nêm.”
Tôi nuốt cơm. Khôi cười: “Thôi mạ, nó nấu cho ăn là phước rồi.”
Năm đầu tôi tưởng mình chưa khéo. Năm thứ ba tôi biết dù khéo cỡ nào, bà cũng tìm ra chỗ để chê. Cái gối tôi giặt thì “phơi cho mối ăn”. Cái áo tôi may cho bà thì “đường chỉ hơi lệch”. Nhưng có một điều tôi không giải thích được: bà chê tôi mà chưa bao giờ để tôi đói. Tôi sốt một đêm, sáng ra nồi cháo sườn đã nằm trên bếp, bà không nói một lời.
Khôi không xấu từ đầu. Anh nóng, hay cáu mỗi khi tiệm vắng, hay buột miệng “tui nuôi cô”. Tôi nghe riết thành quen, như quen tiếng xe qua ngõ.
Cho đến năm ngoái, khi ba tôi bị ung thư phổi, phát hiện thì đã muộn. Tám tháng cuối ông nằm bệnh viện Huế, má tôi ở lại chăm, cuối tuần nào tôi cũng ôm xe khách ra. Khôi đi đúng một lần, ngồi mười lăm phút, liếc đồng hồ, bảo tiệm bận. Anh đưa năm trăm nghìn “tiền đi đường”. Tôi cầm.
Hôm đó, ba nhìn Khôi lâu hơn người ta nhìn một ông con rể. Ông chỉ vào cái chân anh, chỗ vết sẹo chạy dài dưới gấu quần, hỏi: “Chỗ đó trở trời còn nhức không con?”
Khôi ngạc nhiên rồi cười: “Dạ cũ rồi ba. Hồi nhỏ bị xe tông, có chi.”
Ba gật, quay ra cửa sổ, nhìn rất lâu. Tôi nghĩ ông chỉ hay lo cho người khác.
Đám tang ba, Khôi không về được, “đúng hôm đó có xe khách đặt máy, cô thông cảm”. Mạ chồng thì về một mình. Bà đứng ngoài cổng, nón kéo sụp, không vô thắp nhang, đứng đến khi xe tang đi qua mới quay lưng. Tôi nghĩ bà ngại, vì hai bà thông gia chưa từng thân nhau.
Còn mỗi tháng Tám âm lịch, bà mua ba trái bưởi đặt lên cái bàn thờ nhỏ trong bếp, không ảnh, không tên. Khôi từng hỏi: “Mạ cúng ai rứa?” Bà đáp: “Ân nhân.” Hết. Anh hừ mũi, bảo mạ mê tín.
Từng thứ một, tôi đều đã thấy. Chỉ là tôi chưa ghép chúng lại với nhau.
Bốn giờ sáng, tôi dậy trước chuông báo thức, kéo khóa ba lô thật nhẹ. Khôi ngủ quay mặt vô tường, nhưng tôi biết anh thức, vì lưng anh cứng như tấm ván.
Ngoài bếp, đèn đã sáng. Mạ chồng đứng cạnh bàn, trên bàn là cái túi ni lông đựng ba trái bưởi, bọc sẵn tờ báo.
“Đem về thắp cho ba con.”
“Đi đi, kẻo lỡ xe.” Bà không nhìn tôi, tay chỉnh cái quai túi, chỉnh tới lần thứ ba. “Trái còn non, chưa ngọt. Nhưng cũng là bưởi tháng Tám.”
Cửa phòng bật mở. Khôi bước ra, mắt đỏ. “Mạ cho nó cái chi rứa?”
“Mạ đứng về phía nó hả?” Giọng anh gằn lên. “Mai khách ngồi đầy nhà, con dâu mạ ở mô?”
Bà Sương quay lại nhìn con trai. Chỉ nhìn. Không giận. Giống như người nhìn một cái chén sắp rơi mà tay không với kịp.
“Mày muốn nói chi thì nói với mạ,” bà nói. “Đừng nói với nó.”
Tôi xách túi bưởi ra cửa. Phía sau, Khôi quát theo: “Cô mà đi là thôi luôn nghe chưa!”
Xe khách tới Quảng Trị gần trưa. Đường vô làng tôi đi bộ, ba trái bưởi đập vào chân từng bước. Ở cổng, má tôi, bà Lài, đã đứng đợi, tóc bạc thêm, tay cầm nắm nhang chưa châm.
Má không hỏi thêm. Bà nhìn túi bưởi, nhìn tôi, rồi quay vô nhà như người đã hiểu mà chọn không nói.
Giỗ đầu ba chỉ có chín người. Mâm cúng có canh cá nục nấu khế, rau lang luộc, dĩa xôi nhỏ, toàn món ông thích. Tôi đặt ba trái bưởi lên bàn thờ. Trong ảnh, ba vẫn cười hiền như hồi ông còn chèo đò ở bến Cửa Việt, ba mươi năm không lấy của học sinh một đồng tiền qua sông.
Đêm đó tôi nằm trên chiếc giường tre của ba, nệm còn lõm theo hình lưng ông. Điện thoại sáng lên: mười bảy cuộc nhỡ của Khôi, và một tin: “Cô muốn ở luôn bên đó thì ở.”
Nửa đêm, thêm một tin nữa: “Mạ bỏ nhà đi rồi. Cô nói gì với mạ?”
Tôi ngồi bật dậy, gọi cho mạ chồng. Chuông reo hết, không ai bắt.
Đó là lúc tôi yếu lòng thật sự. Tôi ngồi ôm điện thoại, ngón cái treo trên màn hình, gõ: “Em về. Em xin lỗi.” Tôi không biết mình xin lỗi vì điều gì, nhưng thói quen năm năm làm dâu chạy thẳng xuống ngón tay như vậy đó. Buồng bên, má ho khẽ. Tôi xóa từng chữ.
Sáng ra, tôi nghe tiếng chổi quét sân, rào rạt, từ trước khi gà gáy. Tôi mở cửa thì thấy một bóng người gầy, nón sụp, áo bà ba cũ, lưng còng.
Bà Sương không quay lại. “Mạ xin ở nhờ mấy bữa. Con đừng hỏi.”
Lần đầu tiên bà gọi tên tôi mà không kèm chữ “con kia”. Tôi quay sang má, má đang đứng ở cửa bếp, im lặng, rồi bà nói rất nhẹ: “Bà thông gia ngồi xuống ăn cơm đi.”
Hai bà già ngồi hai đầu mâm. Không ai nhắc chuyện gì. Chỉ có tiếng đũa chạm bát, và cái nhìn qua lại giữa họ mà tôi đọc không ra.
Sáu ngày, bà làm hết việc mà không ai nhờ. Quét sân, đánh bóng cái lư đồng của ba bằng tro trấu, nhổ cỏ quanh mộ. Chiều nào cũng vậy, bà vô nhà quỳ trước bàn thờ ba, quỳ hàng tiếng, miệng lẩm bẩm gì đó tôi không nghe rõ. Tôi bước tới thì bà lau vội mắt, bảo bụi.
Khôi nhắn mỗi ngày một ít. Hôm thứ ba: “Mạ ở với cô thiệt hả?” Hôm thứ năm: “Tiệm đóng cửa hai bữa rồi.” Hôm thứ sáu chỉ có một chữ: “Chờ.”
Hôm thứ bảy, gần chạng vạng, tôi đang rửa rau thì nghe tiếng xe máy phanh gấp ngoài ngõ. Khôi đứng ở cổng, râu lởm chởm, áo nhàu, bánh xe dính đầy bùn. Anh chạy bảy trăm cây số, hay là gần ba trăm, chẳng biết, chỉ biết mắt anh đỏ như người mấy đêm không ngủ.
Tôi chưa kịp trả lời thì anh đã sải bước vô sân, nhìn vô cửa nhà chính.
Bà Sương đang quỳ trước bàn thờ ba tôi, trán áp xuống nền gạch. Má đứng cạnh, tay vịn khung cửa. Ba tôi ở trong ảnh, vẫn cười.
“Mạ! Mạ làm chi quỳ ở nhà người ta?” Khôi lao tới, nắm cánh tay mẹ kéo lên. “Đứng dậy! Con đưa mạ về!”
Bà Sương giật tay ra. Chưa bao giờ tôi thấy bà có sức như vậy.
“Khôi,” bà nói, không ngẩng đầu. “Quỳ xuống.”
“Quỳ xuống. Người trong tấm hình kia là người giữ con sống.”
……………………………………………
Đọc tiếp câu chuyện bên dưới
Khôi đứng chết cứng. Trong nhà chỉ còn tiếng quạt trần quay chậm, kẽo kẹt. Con thạch sùng chép miệng trên xà.
“Mạ nói chi lạ rứa…”
“Cái sẹo trên đùi con.” Bà Sương vẫn quỳ, giọng khản đặc. “Năm con chín tuổi, xe tải cán ngang chân con trước cổng trường. Máu chảy như vòi nước. Mạ ôm con chạy vô bệnh viện Huế. Bác sĩ nói con mất quá nhiều, mà nhóm máu con hiếm, O âm, kho không còn túi nào.”
“Con có nhớ mang máng,” Khôi nói, giọng lạc đi. “Mạ bảo con được người ta cho máu.”
“Người ta.” Bà cười, tiếng cười khô như lá. “Bệnh viện hồi đó phát loa gọi người cùng nhóm. Có một người đàn ông ở tận Triệu Phong, nghe thằng cháu làm y tá báo tin, bỏ cái đò đó, chạy xe Dream bảy mươi cây số. Cho hai lần, cách nhau ba ngày. Lần thứ hai ổng ngất ngoài hành lang, y tá phải dìu.”
Tôi nghe giọng mình, nhỏ và vỡ: “Ba?”
Má gật. Ngón tay bà vuốt nhẹ viền khung ảnh. “Ba con không bao giờ nói. Má cũng không biết, cho tới hôm đám hỏi. Hôm đó ba con với bà thông gia đứng nhìn nhau ở sân, như gặp ma.”
Mạ chồng ngẩng lên, nhìn thẳng vào tôi, lần đầu tiên sau năm năm, không né. “Hồi đó mạ lạy ổng ngay ngoài hành lang. Ổng xua tay, bảo thằng nhỏ sống là được rồi. Mạ không biết tên, chỉ nhớ tờ giấy hiến máu ghi ‘Bảy, Triệu Phong’. Hai mươi năm sau, con trai mạ dắt về một đứa con gái quê Triệu Phong, cha tên Bảy.”
“Rồi răng mạ không nói?” Khôi hỏi, tiếng như bị ai bóp cổ.
“Ba con dặn mạ đừng nói.” Bà quay sang di ảnh. “Ổng bảo: nó mà biết, nó thương vợ vì mang ơn, chứ không phải thương thiệt. Mạ hứa.”
Không ai nhúc nhích. Rồi bà nói tiếp, giọng thấp xuống, chậm:
“Mạ cả đời chưa chịu ơn ai. Rồi mạ mắc ơn một người mà người đó lại gả con gái hiền như đất cho con trai mạ. Mỗi lần thấy Diệu bưng mâm cơm, mạ thấy mình lùn đi một cái đầu. Mạ chê nó, kiếm chuyện với nó, để mạ còn thấy mình đứng cao hơn. Cái tội đó là của mạ. Không phải của nó.”
Tôi nhớ nồi cháo sườn sáng hôm sốt. Nhớ ba trái bưởi bọc báo. Nhớ cái bóng đứng ngoài cổng đám tang.
“Hôm đám tang ba,” tôi nói, “mạ đứng ngoài cổng.”
“Mạ không dám vô.” Bà Sương cúi xuống. “Mạ sợ vô rồi mạ quỵ trước cả làng.”
Khôi chậm chạp kéo gấu quần lên. Vết sẹo trắng, dài, chạy từ đùi xuống gối. Anh nhìn nó như nhìn một thứ chưa từng thấy. Tay anh run. Rồi hai đầu gối anh gập xuống nền gạch, rất mạnh, nghe một tiếng “bịch” làm má tôi giật mình.
Anh quỳ trước ảnh ba, trán chạm đất. Móng tay anh đen nhớt, bám chặt khe gạch, trắng bệch ở đầu ngón. Anh không khóc thành tiếng, chỉ có cái lưng rung lên từng nhịp.
“Con xin lỗi ba,” giọng anh vỡ ra, nghẹn. “Con xin lỗi…”
“Thôi,” má tôi nói. “Ba con không bao giờ chịu cho ai lạy.”
Anh vẫn quỳ. Rất lâu.
Khi anh ngẩng lên, anh quay sang tôi. Mắt sưng, mặt ướt, trông như một thằng bé lạc đường. “Diệu. Về với anh.”
Tôi đứng giữa nhà, ba trái bưởi non đã héo trên bàn thờ sau lưng. Tôi lắc đầu.
“Anh quỳ trước ba vì ba cứu anh. Em thấy rồi, và em không cản.” Tôi dừng, lấy hơi. “Nhưng đêm đó anh nói ‘người chết rồi, ai biết ai hay’. Người chết đó là ba em. Anh chưa quỳ vì câu đó. Anh chưa quỳ vì chuyện năm năm nay.”
“Anh không biết…”
“Em biết anh không biết. Cho nên em mới chưa nói gì nặng hơn.”
Anh cúi đầu. Không cãi.
Sáng hôm sau, Khôi chạy xe về một mình, lúc trời còn tối. Mạ chồng ở lại thêm hai ngày, rồi lên xe khách sau cùng. Trước khi bước lên, bà nhét vô tay tôi một cái túi vải đỏ gạch, cái túi tôi từng thấy ở bậc cửa. Trong đó là tờ biên nhận học phí cũ, ảnh Khôi chín tuổi nằm giường bệnh, và đúng một tờ giấy hiến máu đã ố vàng, nét mực nhòe: Nguyễn Văn Bảy, Triệu Phong.
“Mạ giữ hai mươi năm,” bà nói. “Giờ trả.”
Tôi không đưa tay nhận ngay. Rồi tôi nhận.
Tôi ở lại Quảng Trị. Má yếu hơn tôi tưởng, buổi tối hay quên tắt bếp, và cái đò của ba còn nằm mục bên bến, chưa ai đủ lòng bán. Mười hai mâm ở quán bên Đà Nẵng bị hủy, sáu triệu tiền cọc mất trắng. Khách may của tôi sau ba tuần đã chuyển hết sang tiệm khác, cái máy Juki vẫn nằm dưới mái hiên Hòa Khánh, phủ tấm bạt. Tôi biết cái giá của việc ở lại, và tôi chọn trả nó.
Khôi gọi mỗi tối, hỏi thăm má, hỏi thăm tôi, không đòi hỏi gì. Tôi chưa nói sẽ về. Anh cũng chưa dám nói sẽ đợi.
Tối qua, đến lượt mạ chồng gọi. Giọng bà qua điện thoại nhỏ xíu, ngập ngừng, khác hẳn người tôi quen.
“Con ăn cơm chưa?”
“Dạ rồi mạ.”
“Bưởi nhà mình tháng này chín rồi. Mạ để dành trái tròn nhất.” Bà ngừng một lúc. “Mạ không biết còn được đem vô cúng ba con nữa không.”
Tôi nhìn lên bàn thờ. Ba vẫn cười.
“Dạ,” tôi nói. “Mạ cứ để đó.”
Tôi không nói thêm. Tắt máy xong, tôi thay nước chén cúng, đặt nén nhang mới lên lư, rồi ngồi nghe tiếng gió thổi qua rặng dừa ngoài bến.