CHA TÔI NẰM V:IỆN MƯỜI BẢY NGÀY, BA ANH CHỊ CẢ KHÔNG AI THAY TÔI TRỰC ĐÊM. ĐẾN NGÀY ÔNG M:ẤT, ANH CẢ ĐỨNG RA LO Đ:ÁM TANG RỒI Đ:ÒI MỖI NHÀ GÓP BA MƯƠI TR:IỆU CHO “Đ:ÁM TANG NỞ MÀY NỞ M:ẶT”. TÔI LÀM CÔNG NHÂN, CHỈ GỬI ĐƯỢC NĂM TR:IỆU, ANH LIỀN CHỈ VÀO M:ẶT TÔI TRƯỚC BÀ CON: “BỐ NUÔI MÀY BẰNG NGẦN ẤY NĂM, GIỜ ĐẾN LÚC LO CHO ÔNG THÌ MÀY TÍNH TOÁN TỪNG ĐỒNG!” TÔI KHÔNG C:ÃI, CHỈ LẶNG LẼ Đ:ẶT TÚI TH:UỐC VÀ GIẤY V:IỆN PHÍ MƯỜI BẢY NGÀY LÊN BÀN…
Anh Hải chỉ thẳng vào m:ặt tôi, giọng rít qua kẽ răng giữa sân nhà đầy người đang đứng chia buồn, rồi g:iật phắt phong bì năm tr:iệu của tôi n:ém xuống nền gạch. Tôi cúi xuống nhặt, không nói một lời, lấy từ trong túi vải ra một xấp giấy đã nhàu và đ:ặt lên bàn thờ phụ ngay trước m:ặt anh. Anh nhìn xấp giấy, và tôi thấy m:ặt anh t:ái đi.
Cha tôi m:ất lúc bốn giờ sáng. Ông nằm v:iện đúng mười bảy ngày vì suy tim, phổi tích nước.
Tôi tên Thu, ba mươi hai tuổi, công nhân may ở khu công nghiệp. Anh Hải bốn mươi lăm tuổi, làm chủ thầu xây dựng nhỏ. Chị Lan bốn mươi mốt tuổi, b:án hàng ở chợ. Anh Tuấn ba mươi tám tuổi, chạy xe công nghệ. Ba anh chị đều có gia đình riêng, nhà cửa đàng hoàng. Tôi là út, thuê trọ, lương chưa tới tám tr:iệu.
Ngày đầu nhập v:iện, anh Hải gọi đ:iện đúng một cuộc.
“Em ở gần v:iện, em lo trước đi. Anh bận công trình, cuối tháng anh gửi t:iền phụ.”
Cuối tháng chẳng có đồng nào. Chị Lan nhắn tin b:ảo bận trông cháu, b:án hàng ngày Rằm không nghỉ được. Anh Tuấn thì ghé đúng một lần, đứng ở cửa phòng b:ệnh chưa đầy mười phút, nhìn đồng hồ ba lần rồi chào.
Mười bảy đêm, tôi trải tấm chiếu mỏng ở hành lang. Ban ngày tôi xin nghỉ không lương, ban đêm tôi thức. Có đêm cha tỉnh dậy, thều thào hỏi:
“Mấy anh chị con đâu?”
“Dạ, các anh chị bận việc, mai sẽ vào cha ạ.”
Ông nhìn trần nhà rất lâu, rồi nắm lấy tay tôi, nắm ch:ặt hơn sức một người b:ệnh nặng. Ông định nói gì đó nhưng chỉ ho. Sáng hôm sau ông b:ảo tôi lấy cái túi vải nâu ở đầu giường, dặn:
“Giữ cho kỹ. Đừng đưa cho ai, trừ khi người ta nói oan cho con.”
Tôi tưởng ông lú lẫn nên chỉ gật đầu, nhét túi vào ba lô.
Đến ngày ông m:ất, ba anh chị đột nhiên có m:ặt đủ cả. Anh Hải dựng rạp, thuê kèn, gọi thợ, đứng giữa sân chỉ đạo như người hiếu thảo nhất thiên hạ. Bà con đến viếng ai cũng khen anh lo chu đáo.
Tối hôm đó, anh gọi cả ba nhà họp trước bàn thờ, trước m:ặt cả họ.
“Đ:ám tang này phải cho nở mày nở m:ặt. Rạp, kèn, m:âm cỗ, xe tang, tính ra hơn trăm tr:iệu. Mỗi nhà góp ba mươi tr:iệu, không bàn c:ãi.”
Chị Lan gật đầu ngay. Anh Tuấn cũng gật. Tới lượt tôi, tôi nói thật:
“Anh ơi, em chỉ gom được năm tr:iệu. Mười bảy ngày nằm v:iện em đã ứng t:iền th:uốc, t:iền ăn, t:iền giường dịch vụ rồi. Em còn n:ợ đồng nghiệp.”
Cả sân im phựt. Anh Hải đ:ập tay xuống bàn.
“Năm tr:iệu? Bố nuôi mày bằng ngần ấy năm, giờ đến lúc lo cho ông thì mày tính toán từng đồng!”
Chị Lan chép miệng, giọng đủ để cả họ nghe:
“Làm công nhân thì thôi, nhưng đứa út được thương nhất mà tới lúc này lại keo kiệt, thật không ra gì.”
Có người xì xào. Có bà dì lắc đầu nhìn tôi. Tôi đứng đó, tay run nhưng không kh:óc. Tôi nhớ mười bảy đêm ở hành lang, nhớ bàn tay cha nắm ch:ặt tay tôi.
Anh Hải g:iật phong bì khỏi tay tôi, n:ém xuống đất.
“Không có t:iền thì c:út ra, đừng đứng trước bàn thờ cha làm bẩn mắt ông!”
Tôi cúi nhặt phong bì, lau bụi, đ:ặt lại lên bàn. Rồi tôi mở ba lô, lấy ra túi th:uốc nhựa đầy vỏ vỉ th:uốc, xấp hóa đơn, và tập giấy v:iện phí in từng ngày, kẹp ghim cẩn thận. Tôi đ:ặt hết lên bàn, ngay dưới di ảnh cha.
“Anh Hai, đây là mười bảy ngày. Anh xem giúp em, t:iền này của ai.”
Anh Hải liếc xuống, định c:ười kh:ẩy. Nhưng khi ánh mắt anh dừng ở dòng cuối của tờ v:iện phí, nụ c:ười đó tắt hẳn. Chị Lan nghiêng người nhìn theo, rồi cũng im b:ặt.
Vì ở dòng “Người thanh toán” không có tên tôi. Và trong ba lô của tôi còn cái túi vải nâu cha dặn giữ, tôi vẫn chưa mở ra.
HẾT PHẦN 1
Còn Phần 2, sự thật phía sau chuyện này mới thực sự được hé lộ…
Phần 2 mình để ở phần bình luận nhé! tạo ảnh giúp tôi ảnh 1:1 người việt nam và viết tiếp phần 2 khoảng 2000 chữ cái kết hay nhất

PHẦN 2: BÍ MẬT TRONG TÚI VẢI NÂU VÀ SỰ THẬT TÊ TÁI
Ở dòng “Người thanh toán” trên tờ hóa đơn viện phí mười bảy ngày qua không phải là tên tôi.
Tên người thanh toán in rõ ràng bằng mực đen: Lê Văn Hải.
Sắc mặt anh Hải đổi từ đỏ gay sang xám bệch như tàu lá chuối. Chị Lan nghếch cổ nhìn sang, đôi mắt mở to ngơ ngác, còn anh Tuấn thì đứng chết lặng ở góc bàn thờ.
Bà con họ hàng xung quanh bắt đầu xì xào lớn hơn. Chú Bảy – em ruột của cha tôi, người có tiếng nói nhất trong dòng họ – bước lại gần, đeo kính lão vào rồi cầm xấp hóa đơn lên đọc to cho cả sân cùng nghe:
– “Viện phí giai đoạn 1: Bốn mươi hai triệu đồng. Viện phí cấp cứu và thuốc ngoài danh mục: Ba mươi tám triệu đồng. Tổng cộng: Tám mươi triệu đồng. Người thanh toán: Lê Văn Hải (đã thanh toán bằng hình thức trích xuất từ tài khoản sổ tiết kiệm ủy quyền)…”
Chú Bảy ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào anh Hải:
– “Hải! Tờ hóa đơn này là sao? Mày bảo với họ hàng là mười bảy ngày qua mày bận công trình không vào viện, tiền viện phí đứa út phải đi vay mượn lo liệu. Sao hóa đơn lại đứng tên mày? Mà lại còn trích từ ‘sổ tiết kiệm ủy quyền’ là thế nào?”
Anh Hải run rẩy, môi mấp máy không thốt ra được câu nào. Chị Lan cuống quýt nhảy vào giải thích:
– “Chú Bảy… chắc… chắc có sự nhầm lẫn gì ở đây thôi chú…”
– “Không nhầm lẫn đâu chị Lan,” – tôi cắt lời, giọng run run nhưng kiên định. – “Mười bảy ngày qua, em là người ở lại hành lang bệnh viện, đêm nào cũng đi nộp từng biên lai, lấy từng liều thuốc. Anh Hải không hề tốn một đồng tiền túi nào cả. Số tiền tám mươi triệu viện phí đó được trích thẳng từ sổ tiết kiệm dưỡng già của cha!”
Tôi mở ba lô, lấy ra chiếc túi vải nâu nhỏ mà cha dặn giữ kỹ trước khi qua đời. Trước mặt đông đủ họ hàng, tôi rút ra một cuốn sổ tiết kiệm cũ kỹ đã sờn góc và một tờ giấy được gấp tư, nét chữ chệch ngoạc của cha viết bằng bút bi xanh.
Tôi đưa tờ giấy cho chú Bảy:
– “Chú Bảy đọc giúp con. Đây là di nguyện cuối cùng của cha gửi cho các anh chị.”
Chú Bảy dầy tay nhận lấy, ho khẹc một tiếng rồi đọc lớn giữa không gian lặng ngắt của đám tang:
“Gửi các con của bố,
Khi các con đọc những dòng này, có lẽ bố đã không còn trên đời nữa. Bố biết mình suy tim nặng, không sống được bao lâu. Mười bảy ngày nằm viện, bố tỉnh ít mê nhiều, nhưng bố vẫn biết hết.
Bố biết thằng Hải bận tính toán tiền công trình, sợ tốn tiền chăm bố. Bố biết cái Lan sợ mất mối bán hàng ngày Rằm. Bố biết thằng Tuấn ghé thăm bố mười phút nhưng nhìn đồng hồ ba lần vì sợ lỡ chuyến xe khách.
Các con đều có nhà cao cửa rộng, có xe, có sự nghiệp. Nhưng đứa duy nhất ngủ chiếu dưới sàn hành lang lạnh lẽo mười bảy đêm qua, đút cho bố từng muỗng cháo, lau rửa cho bố lúc bố đi vệ sinh không tự chủ được… lại là con Thu – đứa con gái út làm công nhân lương chưa nổi tám triệu của bố.
Thằng Hải à, cuốn sổ tiết kiệm hai trăm triệu là tiền bố bán mảnh vườn cũ ở quê từ ba năm trước. Bố đã sang tên ủy quyền cho con đứng tên hộ bố để phòng khi bố cấp cứu thì có tiền dùng ngay. Mười bảy ngày qua, chính con Thu đã cầm chứng minh thư và giấy ủy quyền của bố đi rút từng đợt tiền trong cuốn sổ đó để đóng viện phí cho bố.
Trong sổ hiện tại vẫn còn lại một trăm hai mươi triệu. Bố dặn con Thu giữ kỹ giấy tờ viện phí này, vì bố biết tính thằng Hải. Bố biết sau khi bố mất, các con sẽ lại lấy cớ đám tang hoành tráng để đè nén, đòi hỏi con Thu.
Số tiền một trăm hai mươi triệu còn lại trong sổ tiết kiệm, bố quyết định cho toàn bộ con Thu để nó làm vốn làm ăn, đền bù cho những ngày tháng nó vất vả vì bố. Mấy đứa anh chị khá giả, đừng giành giật với em.
Đám tang của bố, chỉ cần sự thành kính. Bố không cần rạp to, kèn rầm rộ để ‘nở mày nở mặt’ với đời. Bố chỉ cần các con biết yêu thương nhau thật lòng…”
Giọng chú Bảy chùng xuống ở những câu cuối. Cả khoảng sân nhà rộng lớn bao trùm bởi sự im lặng đè nén.
Bà con họ hàng nhìn ba người anh chị bằng ánh mắt coi thường và khinh bỉ. Mấy bà dì trước đó còn hùa theo trách tôi keo kiệt, giờ đây quay sang xì xào:
– “Trời ơi, làm ăn lớn, nhà cửa đàng hoàng mà đối xử với bố đẻ không bằng đứa con gái làm công nhân.”
– “Ăn chặn cả tiền đám tang, lấy tiền của ông cụ đi làm màu với thiên hạ. Đúng là bất hiếu!”
Chị Lan gục mặt xuống, không dám ngẩng lên. Anh Tuấn thì lủi dần ra phía sau rạp đám tang vì quá xấu hổ.
Còn anh Hải, người vừa vài phút trước rít qua kẽ răng, đập bàn chỉ mặt tôi, giờ đây đứng chết dí như một pho tượng đá. Anh nhìn chiếc phong bì năm triệu vứt dưới đất mà tôi đã cẩn thận nhặt lên lau bụi, rồi nhìn sang tấm chiếu cũ tôi vẫn gấp gọn để ở góc sân — tấm chiếu tôi đã trải mười bảy đêm ở hành lang bệnh viện thăm thẳm gió lùa.
– “Thu… anh… anh không biết…” – Anh Hải lắp bắp, giọng lạc đi.
– “Anh không biết, hay anh không muốn biết?” – Tôi nhìn thẳng vào mắt anh Hải, nước mắt mười bảy ngày qua nén chặt giờ mới lăn dài trên má. – “Anh đòi mỗi nhà góp ba mươi triệu để làm đám tang nở mày nở mặt. Nhưng anh có biết, mười bảy ngày qua, mỗi lần cha lên cơn đau, cha đều gọi tên anh Hải, chị Lan, anh Tuấn không? Cha mong các anh chị vào thăm dù chỉ mười phút, nhưng các anh chị coi việc chăm cha là gánh nặng!”
Tôi tiến lại gần bàn thờ, đặt chiếc phong bì năm triệu đồng cùng toàn bộ xấp hóa đơn viện phí lên trước di ảnh của cha.
– “Năm triệu này là tiền mồ hôi nước mắt em đi làm ca đêm, tăng ca từng giờ tích góp được. Em gửi thắp hương cho cha. Còn số tiền một trăm hai mươi triệu cha để lại trong sổ tiết kiệm…”
Tôi quay sang nhìn anh Hải và các anh chị:
– “Em không lấy một đồng nào cả. Em xin rút toàn bộ số tiền đó ra để chi trả trọn gói cho đám tang của cha ngày hôm nay. Như vậy, các anh chị không cần phải bỏ ra một đồng nào, cũng không cần phải băn khoăn chuyện ‘nở mày nở mặt’ hay thiếu thốn nữa. Em làm công nhân, nghèo tiền nghèo bạc, nhưng em không muốn mang tiếng là giành giật tài sản của cha với các anh chị!”
Nói xong, tôi quỳ xuống trước bàn thờ cha, dập đầu ba cái thật sâu.
Cả sân nhà không một ai cầm được nước mắt. Chú Bảy thở dài đánh sượt, bước đến xoa đầu tôi:
– “Tốt lắm con ạ. Cha con ở trên cao có linh thiêng cũng sẽ mỉm cười vì có đứa con như con.”
Anh Hải lúc này như sụp đổ hoàn toàn. Anh quỳ gục xuống ngay dưới chân bàn thờ, hai tay ôm lấy mặt khóc nức nở — những giọt nước mắt hối hận muộn màng của một người con chỉ biết đến sĩ diện và tiền bạc. Chị Lan và anh Tuấn cũng bật khóc, tiến lại gần bàn thờ cha, quỳ xuống cúi đầu nhận lỗi.
CÁI KẾT Ý NGHĨA
Sau đám tang của cha, tôi quay trở lại với công việc công nhân may ở khu công nghiệp. Số tiền còn dư từ sổ tiết kiệm của cha sau khi lo xong đám tang, theo đúng sự chứng kiến của chú Bảy và họ hàng, đã được gửi vào một quỹ từ thiện tích đức cho cha, đúng như nguyện vọng tôi đề xuất.
Ba anh chị tôi sau sự việc hôm đó đã nhận ra sai lầm lớn nhất của cuộc đời mình. Họ tìm đến tận căn phòng trọ nhỏ bé của tôi. Anh Hải gửi lời xin lỗi chân thành, nộp lại toàn bộ số tiền anh từng có ý định trục lợi từ đám tang, còn chị Lan và anh Tuấn tự nguyện góp tiền phụ giúp tôi thuê một căn nhà trọ rộng rãi, đàng hoàng hơn.
Dù vết thương lòng và sự mất mát cha không thể ngày một ngày hai nguôi ngoai, nhưng tôi hiểu rằng: Sự hiếu thảo không đo đếm bằng mâm cao mỗ đầy hay những đám tang xa hoa lộng lẫy để khoe khoang với thế gian, mà nó nằm ở từng muỗng cháo, từng chén thuốc và sự có mặt chân thành khi người thân cần chúng ta nhất.
Tôi đứng trước cửa sổ phòng trọ mới, ngắm nhìn ánh nắng ban mai ấm áp chiếu qua kẽ lá. Tôi tin rằng, ở một nơi nào đó trên bầu trời cao xa, cha vẫn đang dõi theo và mỉm cười bình yên cùng tôi.