
Tôi gặp Minh vào năm 23 tuổi, khi tôi còn là cô nhân viên phục vụ tại một quán cà phê nhỏ nơi góc phố. Minh là khách quen, ngày nào cũng gọi một ly nâu đá ít đường, ngồi đúng chiếc bàn cạnh cửa sổ. Sự hiền lành, điềm đạm của anh như dòng nước mát tưới tắm tâm hồn tôi giữa Sài Gòn xô bồ.
Từ những câu chuyện xã giao, chúng tôi yêu nhau lúc nào không hay. Một đám cưới giản dị nhưng ấm cúng diễn ra vài tháng sau đó. Tôi cứ ngỡ cuộc đời mình đã cập bến đỗ bình yên. Nào ngờ, sóng gió lại bắt đầu từ chính sự bình yên ấy.
Ba năm trôi qua, căn nhà nhỏ của chúng tôi vẫn vắng tiếng cười trẻ thơ. Chúng tôi không dùng bất cứ biện pháp tránh thai nào, nhưng tin vui vẫn bặt vô âm tín. Áp lực từ họ hàng, làng xóm như những tảng đá vô hình đè nặng lên vai tôi. Minh vẫn thế, vẫn nắm tay tôi mỗi tối và bảo: “Con cái là lộc trời, mình cứ sống tốt, trời sẽ thương.”
Một buổi chiều, cơn buồn nôn ập đến bất ngờ khiến tôi xây xẩm mặt mày. Mẹ chồng tôi – người vốn đang khao khát cháu nội đến cháy lòng – là người phát hiện ra đầu tiên. Bà nhìn tôi nôn khan, ánh mắt sáng rực lên: “Cái Thư! Có khi nào… con có tin vui rồi không?”
Tim tôi đập thình thịch. Chu kỳ của tôi đã trễ hai tuần. Cộng thêm triệu chứng này, tôi gần như chắc chắn 90%. Tối hôm đó, ngay khi Minh vừa dắt xe vào cổng, mẹ đã hớn hở khoe ngay.
Trái ngược với sự vỡ òa của tôi và mẹ, Minh sững lại. Anh không cười, cũng chẳng lao đến ôm tôi. Gương mặt anh thoáng qua nét bối rối, thậm chí là… sợ hãi. Anh lảng tránh ánh mắt tôi, đi thẳng vào phòng thay đồ, chỉ buông lại một câu nhạt thếch: “Để thư thư xem sao đã mẹ ạ.”
Thái độ của chồng như gáo nước lạnh tạt vào niềm vui vừa nhen nhóm. Đêm đó, anh nằm quay lưng lại với tôi, tiếng thở dài khe khẽ chìm vào bóng tối.
Một tháng trôi qua, những triệu chứng thai nghén của tôi ngày càng rõ rệt. Tôi thèm chua, hay chóng mặt và bụng dưới có cảm giác tưng tức. Nhưng điều kỳ lạ là Minh nhất quyết không cho tôi đi khám thai.
Mỗi lần tôi đề cập đến việc đi siêu âm để xem con phát triển thế nào, Minh đều gạt đi: “Em yếu, đi lại bệnh viện đông đúc dễ lây bệnh. Cứ ở nhà tẩm bổ, đợi thai lớn chút nữa, ổn định rồi đi một thể.”
Ban đầu tôi nghe lời, nhưng dần dần tôi thấy bất an. Bụng tôi vẫn phẳng lì, không có dấu hiệu to lên dù tôi ăn rất nhiều. Hơn nữa, thái độ của Minh ngày càng lạ. Anh thường xuyên về muộn, hay ngồi thẫn thờ hút thuốc ngoài ban công – điều mà trước đây anh chưa từng làm.
Sự nghi ngờ nhen nhóm trong tôi. Có phải anh không muốn đứa con này? Hay anh đang giấu tôi điều gì? Có người đàn bà khác bên ngoài chăng? Những câu hỏi ấy cứ gặm nhấm tâm trí tôi mỗi ngày.
Hôm ấy là một ngày nắng đẹp hiếm hoi của mùa mưa. Nhân lúc Minh đi làm, tôi quyết định dọn dẹp lại phòng ngủ, lột hết chăn ga gối đệm đi giặt để chuẩn bị đón con chào đời trong không gian sạch sẽ nhất.
Khi nhấc bổng tấm đệm dày lên, một phong bì màu vàng ố rơi ra. Nó được dán kín, nằm ép sát vào góc giường phía bên Minh nằm. Tò mò, tôi xé phong bì. Bên trong là một xấp hồ sơ bệnh án mang tên tôi.
Ngày tháng trên hồ sơ là từ hai năm trước – thời điểm tôi bị ngất xỉu và Minh đưa tôi đi cấp cứu, anh bảo tôi chỉ bị tụt đường huyết. Nhưng dòng chữ kết luận của bác sĩ trên tờ giấy này lại hoàn toàn khác: “Bệnh nhân: Nguyễn Hoài Thư. Chẩn đoán: Đa nang buồng trứng thể nghiêm trọng, Khả năng thụ thai tự nhiên: 0%.”
Tai tôi ù đi, đất trời như quay cuồng. Tôi lật tiếp tờ giấy thứ hai, là một tờ xét nghiệm gần đây nhất, ghi ngày tháng ngay sau khi tôi báo tin có thai. Đó là kết quả xét nghiệm nước tiểu của tôi mà Minh lén lấy đi kiểm tra: “Kết quả: ÂM TÍNH.”
Hóa ra, tôi không hề có thai. Tất cả chỉ là “Mang thai giả” (Phantom Pregnancy) – một hội chứng tâm lý khi người phụ nữ quá khao khát có con, cơ thể sẽ tự sản sinh ra các triệu chứng y hệt như mang bầu.
Minh đã biết tất cả. Anh biết tôi không thể có con từ hai năm trước nhưng giấu kín vì sợ tôi suy sụp. Anh biết lần này tôi mang thai giả, nhưng anh không nỡ đánh thức tôi khỏi giấc mơ hạnh phúc ấy. Anh ngăn tôi đi khám vì sợ bác sĩ sẽ phũ phàng nói cho tôi biết: Trong bụng cô chẳng có gì cả.
Tôi ngồi sụp xuống sàn nhà, nước mắt tuôn rơi lã chã ướt nhòe tờ bệnh án. Cảm giác đau đớn không phải vì tôi không có con, mà vì tôi nhận ra gánh nặng mình đã đặt lên vai Minh quá lớn. Anh đã chịu đựng nỗi đau vô sinh này một mình suốt hai năm qua, lại còn phải đóng vai người chồng vô tâm để che chở cho hy vọng mong manh của tôi.
Tối hôm đó, Minh về nhà. Thấy tôi ngồi thất thần bên mép giường, tờ bệnh án đặt trên bàn, anh hiểu mọi chuyện đã vỡ lở. Tôi ngước nhìn anh, giọng khản đặc: “Chúng ta ly hôn đi anh. Em… em giải thoát cho anh.”
Tôi nói trong tiếng nấc nghẹn. Tôi yêu anh, và vì yêu, tôi không thể để anh tuyệt tự. Anh là con trai một, mẹ anh mong cháu đến thế nào tôi biết rõ. Tôi là một cái cây khô, sao có thể bắt anh cả đời không được hái quả?
Minh bước đến, quỳ xuống trước mặt tôi. Anh nắm chặt lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của tôi, ánh mắt kiên định chưa từng thấy: “Em nghe này Thư. Anh cưới em vì anh yêu em, vì muốn sống cùng em đến già, chứ không phải cưới em về để làm một cái máy đẻ.”
Anh gạt nước mắt cho tôi, giọng trầm ấm nhưng mạnh mẽ: “Con cái là duyên. Có thì vui, không có thì chúng ta xin con nuôi, hoặc cứ sống thế này. Anh giấu em vì anh sợ em dằn vặt, sợ em tự ti. Anh thà để em trách anh vô tâm, còn hơn nhìn em tuyệt vọng. Đừng bao giờ nói ly hôn nữa. Dù có con hay không, anh vẫn sẽ luôn ở bên em. Em mới là người đi cùng anh đến cuối đời.”
Tôi ôm chầm lấy Minh, khóc như một đứa trẻ. Những giọt nước mắt lần này không còn mặn chát vị đắng cay, mà ấm nóng sự biết ơn và tình yêu thương vô bờ.
Cơn nghén giả của tôi dần biến mất sau khi tâm lý được giải tỏa. Dù thực tế phũ phàng rằng chúng tôi khó có thể có con chung, nhưng tôi nhận ra mình đã có một “đứa con” tinh thần quý giá nhất – đó chính là tình nghĩa vợ chồng son sắt.
Cuộc đời có thể lấy đi của tôi thiên chức làm mẹ, nhưng đã bù đắp cho tôi một người chồng tuyệt vời. Nhưng tôi vẫn canh cánh trong lòng 1 điều, mẹ chồng tôi khi biết chuyện này liệu bà có chấp nhận tôi giống như cách con trai bà đang làm không?