Được vợ chồng bác bán bún cưu mang suốt thời đại học khó khăn, khi tôi thành đạt quay lại tìm thì biết tin s;;ét đá;;nh ngang tai…
Hồi tôi mới vào đại học, tay xách theo cái ba lô cũ, trong túi chỉ có vài triệu bố mẹ dúi cho để đóng học và sinh hoạt tháng đầu, về sau tự kiếm việc làm thêm kiếm sống. Ký túc xá hết chỗ, tôi đành thuê một căn phòng nhỏ xíu sát mép đường tàu. Tháng đầu tiên, tôi ăn cơm bụi dọc phố. Đến tháng thứ hai, tiền cạn dần. Tôi bắt đầu ăn mì tôm, lót dạ bằng bánh mì ế mua theo ký ở lò bánh.
Rồi một hôm trời mưa, tôi đói lả mà ví không còn đồng nào. Tôi đứng lấp ló trước quán bún riêu đầu ngõ, một quán nhỏ chỉ có chiếc tủ kính, vài cái bàn inox và đôi vợ chồng già luống tuổi. Tôi còn nhớ rõ ánh mắt của bác trai khi nhìn tôi, rồi bác gọi: “Sinh viên à? Lại đây ăn bát bún cho ấm bụng, mai trả cũng được”.
Tôi không hiểu sao bác biết tôi không có tiền. Tôi vừa xấ;;u hổ vừa biết ơn. Đó là bát bún đầu tiên tôi ăn sau nhiều ngày chỉ sống bằng nước lọc.
Từ đó, mỗi lần không còn tiền, tôi lại ghé quán bác. Có hôm tôi chỉ đủ tiền mua nửa suất, bác vẫn gắp thêm cho tôi miếng giò, dúi thêm cái bánh rán đem về. Có lần bác còn bảo: “Học cho giỏi vào, đừng lo chuyện tiền nong. Sau này ra trường làm ông nọ bà kia rồi trả bác cũng chưa muộn”.
Đến năm cuối đại học, tôi có việc làm thêm ổn định nên cũng không túng thiếu lắm, cứ thế đi làm rồi lên đến chức trưởng phòng, lương tháng cũng được gọi là cao, trả hết nợ nần mà bố mẹ vay ở quê, tôi mới nhớ đến đôi vợ chồng già bán bún năm nào.
Nhưng bố tôi lúc này lại ngăn tôi chuyện trả ơn…![]()
![]()

Tôi bàng hoàng nhìn bố. Tại sao ông lại ngăn cản tôi làm một việc nghĩa hiệp, một việc mà chính ông đã dạy tôi từ thuở ấu thơ là “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”?
Bố thở dài, ánh mắt xa xăm đầy nỗi niềm: “Con trai, không phải bố ích kỷ. Nhưng bác trai… bác ấy không còn ở đó nữa. Quán bún ấy cũng không còn nữa đâu.”
Tim tôi hẫng một nhịp. Tôi mặc kệ lời can ngăn của bố, ngay sáng hôm sau, tôi lái chiếc xe mới mua chạy thẳng về con ngõ nhỏ sát đường tàu năm ấy. Cảnh vật thay đổi quá nhiều, những tòa nhà cao tầng mọc lên, nhưng góc phố cũ vẫn còn đó. Tôi đảo mắt tìm kiếm chiếc tủ kính nhỏ và mấy cái bàn inox quen thuộc.
Nhưng trước mắt tôi chỉ là một cửa hàng tiện lợi sáng loáng.
Tôi hỏi thăm những người hàng xóm lâu năm xung quanh. Một bà cụ bán nước chè đầu ngõ nhìn tôi trân trân một hồi rồi tặc lưỡi: “Cậu là thằng sinh viên nghèo hay ăn ở đó đúng không? Bác trai mất cách đây hai năm rồi. Bác gái thì… vừa mới chuyển vào viện dưỡng lão tháng trước.”
Tôi như bị sét đánh ngang tai. Hai năm qua, trong khi tôi mải mê với những bản kế hoạch, những buổi tiệc tùng tiếp khách và những nấc thang danh vọng, thì người ân nhân lớn nhất đời tôi đã lặng lẽ rời xa thế gian này.
Bà cụ kể tiếp, giọng run run: “Cậu không biết đâu, ngày xưa vợ chồng bác ấy nghèo lắm. Đứa con trai duy nhất của hai bác hy sinh ở biên giới, nên bác coi mấy đứa sinh viên nghèo như con cháu trong nhà. Bác trai bị ung thư phổi, nhưng bác giấu, cứ nhịn ăn nhịn mặc để dành tiền… Bác bảo phải để dành một khoản, ngộ nhỡ thằng sinh viên năm nào quay lại mà bác không còn ở đây, thì còn có cái mà đưa cho nó làm vốn liếng vào đời.”
Tôi gục đầu vô lăng, nước mắt trào ra cay đắng. Tôi tìm đến viện dưỡng lão nơi bác gái đang ở. Bước vào căn phòng nhỏ, tôi thấy bác ngồi bên cửa sổ, đôi mắt đã mờ đục vì thời gian nhưng gương mặt vẫn hiền từ như ngày nào.
Tôi quỳ xuống bên cạnh bác, nghẹn ngào: “Bác ơi, con là thằng sinh viên hay ăn bún nợ đây bác…”
Bác gái giật mình, đôi bàn tay gầy guộc, nhăn nheo run rẩy chạm vào mặt tôi. Bác bật khóc, nhưng nụ cười lại rạng rỡ lạ thường: “Về rồi à con? Bác trai chờ con mãi… Bác ấy bảo con nhất định sẽ thành đạt. Đợi bác một chút.”
Bác chậm rãi mở chiếc hòm gỗ cũ kỹ dưới gầm giường, lấy ra một chiếc phong bì bọc trong nhiều lớp nilon. Bên trong là xấp tiền lẻ nhăm nhúm, toàn tờ 10 ngàn, 20 ngàn được vuốt phẳng phiu, và một mảnh giấy nhỏ với nét chữ nguệch ngoạc của bác trai:
“Gửi con. Bác biết con sẽ quay lại. Tiền bún ngày xưa bác tặng, không phải cho nợ. Đây là số tiền bác dành dụm từ những bát bún cuối cùng của đời bác. Cầm lấy mà làm vốn, sống cho tử tế, đừng để cái nghèo làm hèn đi cái tâm của mình.”
Tổng cộng có hơn 50 triệu đồng. Với một người bán bún riêu vỉa hè, đó là cả một gia tài, là mồ hôi nước mắt của cả một đời lao động.
Tôi ôm chầm lấy bác gái, khóc như một đứa trẻ. Hóa ra, tôi tưởng mình quay về để trả ơn, nhưng cuối cùng, tôi lại một lần nữa được họ cưu mang. Sự thành đạt của tôi ngày hôm nay, những bộ vest đắt tiền hay chiếc xe sang trọng này, tất cả đều nhỏ bé trước tấm lòng bao la của hai con người bình dị ấy.
Tôi quyết định không gửi bác gái ở viện dưỡng lão nữa. Tôi đón bác về nhà, chăm sóc bác như mẹ ruột của mình. Số tiền 50 triệu ấy, tôi thành lập một quỹ học bổng mang tên “Bát bún riêu ấm tình”, chuyên giúp đỡ những sinh viên nghèo có nguy cơ bỏ học vì túng quẫn.
Mỗi tối, nhìn bác gái an yên đi vào giấc ngủ trong căn phòng ấm áp, tôi thầm nhủ: Bác trai ở trên cao chắc đang mỉm cười. Bởi bát bún ngày ấy không chỉ nuôi sống cơ thể tôi, mà nó đã nuôi dưỡng cả một tâm hồn biết yêu thương và sẻ chia.