Chị dâu m;ất 1 năm nhà em mới phát hiện cháu không phải con anh trai, đang định đưa vào trại m//ồ c//ôi, hay gửi vào chùa thì nhận được tin … Chị dâu mất tròn một năm, cả nhà mới tá hỏa phát hiện thằng bé không phải con ruột anh trai tôi. Họp gia đình chớp nhoáng, ông bà quyết định: hoặc đưa nó vào trại m;;ồ c;ôi, hoặc gửi lên chùa. Nhưng rồi đúng lúc chuẩn bị cho nó đi, một cuộc điện thoại bất ngờ từ người đàn bà xa lạ đã khiến tất cả chúng tôi ch;;ết lặng.
Mẹ mất lúc mới 5 tuổi, tôi lớn lên trong vòng tay của anh trai – anh Tuấn – và chị dâu – chị Hồng. Họ không sinh được con suốt 5 năm đầu sau khi cưới, nên khi chị Hồng sinh được bé Bin, cả nhà mừng rỡ như trúng số. Bin ra đời là tia sáng đầu tiên sau chuỗi ngày mưa giông trong căn nhà cấp 4 lụp xụp giữa làng quê Quảng Trị.
Anh Tuấn làm thợ hồ, chị Hồng bán rau ngoài chợ huyện. Cuộc sống dù chật vật nhưng họ yêu thương nhau, và Bin lớn lên trong tình cảm đủ đầy của cả nhà. Tôi lúc ấy học lớp 12, hay chở chị Hồng đi chợ bằng xe đạp, chiều về trông Bin phụ. Nó hay cười, đôi mắt đen lay láy và cái lúm đồng tiền bên má khiến ai cũng thương.
Nhưng rồi, bi kịch bắt đầu.
Chị Hồng bị t//ai n//ạn giao thông trên đường đi chợ về. Anh Tuấn suy sụp thấy rõ. Một thời gian dài anh chẳng buồn nói năng, chỉ rượu chè, rồi bỏ việc. Cả nhà như chìm trong bóng tối.
Một năm sau, vào đúng ngày giỗ đầu chị Hồng, bà nội – tức mẹ tôi – rút trong tủ ra một phong bì cũ kỹ. Trong đó là một tờ giấy xét nghiệm ADN. Giấy này, chị Hồng đã gửi cho bà trước khi mất – dặn rằng nếu chị có mệnh hệ gì thì hãy mở ra. Mọi người xúm lại, tôi đọc to từng dòng.
“Quan hệ huyết thống: Không có. Xác nhận: Đứa trẻ không phải con ruột của anh Nguyễn Văn Tuấn.”

Cả gian phòng khách lặng đi, chỉ còn tiếng thở dốc nặng nề của anh Tuấn. Tờ giấy mỏng manh ấy như một nhát dao chí mạng, băm nát chút hy vọng cuối cùng của người đàn ông vốn đã bị nỗi đau bào mòn. Anh nhìn chằm chằm vào bé Bin – đứa trẻ đang ngơ ngác ôm con gấu bông sứt tai, hoàn toàn không biết rằng thế giới của mình vừa sụp đổ.
Mẹ tôi run rẩy, giọng bà lạc đi vì cay đắng: “Nó lừa cả nhà mình. Thằng Tuấn làm lụng bán sống bán chết, chắt chiu từng đồng mua sữa cho con người ta. Giờ mẹ nó đi rồi, nhà mình không thể nuôi thêm một cái ‘nợ đời’ này nữa.”
Cuộc họp gia đình diễn ra chóng vánh trong sự phẫn nộ. Anh Tuấn không nói một lời, anh đứng dậy, đấm mạnh vào tường rồi bỏ ra sân ngồi bất động. Bà nội và các cô chú quyết định rất nhanh: Phải đưa thằng bé đi. Trại mồ côi hay gửi vào chùa, đâu cũng được, miễn là nó biến mất khỏi ngôi nhà này để xóa sạch nỗi nhục nhã mà chị Hồng để lại.
Sáng hôm sau, tôi được giao nhiệm vụ thu dọn vài bộ quần áo của Bin vào chiếc túi cũ. Thằng bé cứ bám lấy gấu áo tôi hỏi: “Cô út ơi, mình đi thăm mẹ Hồng hả cô?” Tim tôi thắt lại, nhưng sự giận dữ đối với chị dâu khiến tôi chỉ biết im lặng. Đúng lúc chúng tôi vừa dắt Bin ra đến cổng, chiếc điện thoại cục gạch của mẹ tôi đổ chuông. Một dãy số lạ hoắc.
Đầu dây bên kia là giọng một người phụ nữ trung niên, gấp gáp và đầy run rẩy: “Có phải người nhà chị Hồng đó không? Tôi là y tá trưởng bệnh viện huyện 6 năm trước… Tôi… tôi phải nói ra sự thật này, nếu không tôi chết không nhắm mắt được.”
Cả nhà tôi vây quanh chiếc điện thoại đang bật loa ngoài. Người phụ nữ ấy kể rằng, vào cái đêm chị Hồng chuyển dạ, bệnh viện gặp sự cố mất điện cục bộ. Trong lúc hỗn loạn và sơ suất của kíp trực, hai đứa trẻ sinh cùng giờ đã bị trao nhầm vòng tay. Chị Hồng là người đầu tiên phát hiện ra sự việc khi bé Bin càng lớn càng không giống ai trong nhà. Chị âm thầm đi xét nghiệm ADN và bàng hoàng nhận ra Bin không phải con mình.
“Chị ấy đã đến gặp tôi, khóc đến ngất đi. Chị ấy biết con ruột mình đang ở một gia đình giàu có trên thành phố, nhưng gia đình đó lại hiếm muộn, họ yêu thương đứa trẻ đó như báu vật. Chị Hồng nói, nếu đòi lại con, đứa trẻ kia sẽ mất đi tương lai tốt đẹp, còn bé Bin – đứa trẻ tội nghiệp bị nhầm lẫn – sẽ bị gia đình bên chồng ruồng bỏ vì mang tiếng là con hoang. Chị ấy chấp nhận sống trong dằn vặt, giữ kín bí mật này và yêu thương bé Bin hơn cả mạng sống để chuộc lỗi cho sự thật trớ trêu này.”
Người y tá nấc lên: “Chị Hồng đã gửi cho tôi một số tiền nhỏ, nhờ tôi hứa rằng nếu chị ấy không còn, hãy đợi một năm sau ngày giỗ mới được liên lạc để xem gia đình đối xử với đứa trẻ thế nào. Nếu mọi người vẫn thương nó, thì hãy cứ để nó sống trong hạnh phúc. Còn nếu… nếu mọi người bỏ nó, thì xin hãy cho tôi địa chỉ của gia đình đang nuôi con ruột chị ấy để họ nhận lại cả hai đứa.”
Điện thoại tắt lịm. Cả sân nhà vắng lặng đến mức nghe rõ tiếng gió rít qua rặng tre. Anh Tuấn từ ngoài sân lao vào, quỳ thụp xuống ôm chặt lấy bé Bin vào lòng. Anh khóc rống lên như một con thú bị thương – một tiếng khóc chứa đựng cả sự ân hận lẫn xót thương vô hạn. Hóa ra, bức thư chị Hồng để lại không phải là lời thú tội về sự phản bội, mà là một sự hy sinh thầm lặng đến đau lòng. Chị đã chọn mang theo tiếng xấu xuống nấm mồ chỉ để bảo vệ cho cả hai đứa trẻ: đứa con ruột được sống trong nhung lụa, và đứa con nuôi không bị gia đình ghét bỏ.
Mẹ tôi đánh rơi chiếc gậy gỗ, bà nhìn bé Bin – đứa cháu mà vài phút trước bà còn định vứt bỏ – giờ đây đang vụng về dùng bàn tay nhỏ xíu lau nước mắt cho bố: “Bố ơi đừng khóc, Bin ngoan mà, Bin không đi đâu hết.”
Chúng tôi đã không đưa Bin đi đâu cả. Gia đình tôi quyết định giữ kín bí mật về đứa con ruột đang ở phương xa, coi đó như tâm nguyện cuối cùng của chị Hồng. Bé Bin vẫn là con trai của anh Tuấn, là cháu nội của mẹ tôi. Tờ giấy xét nghiệm năm nào đã bị chính tay anh Tuấn đốt thành tro trước di ảnh của vợ.
Trong làn khói nhang nghi ngút, tôi thấy nụ cười của chị Hồng trong tấm hình thờ như nhẹ lòng hơn. Chị đã dùng cả cuộc đời và cả cái chết của mình để dạy chúng tôi một bài học: Huyết thống rất quan trọng, nhưng tình thâm được nuôi dưỡng bằng sự hy sinh và lòng vị tha mới là thứ gắn kết con người ta mãi mãi.